Thứ Năm, Tháng Mười Hai 1, 2022
Google search engine
Hometố tụng hình sựThẩm quyền của tòa án quân sự theo quy định của bộ...

Thẩm quyền của tòa án quân sự theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự

Trong các cơ quan xét sử và truy tố trách nhiệm hình sự thì tóa án quân sự là 1 trong những cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật được áp dụng trong bộ luật tố tụng hình sự. Hôm nay, luật hình sự sẽ giới thiệu đến cho các bạn thẩm quyền của tòa án quân sự qua bài viết dưới đây.

tòa án quân sự
tòa án quân sự

Tòa án quân sự là gì ?

Tòa án quân sự là những tòa án thuộc hệ thống Tòa án nhân dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được tổ chức và đảm nhiệm công tác xét xử hình sự trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Hệ thống các tòa án quân sự có 3 cấp: Tòa án quân sự trung ương; các Tòa án quân sự quân khu và tương đương; Tòa án quân sự khu vực. Các Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử những vụ án hình sự mà bị cáo là:

1. Quân nhân tại ngũ, công nhân, nhân viên quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu, dân quân tự vệ phối hợp chiến đấu với quân đội và những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý

2. Những người không thuộc các đối tượng quy định ở điểm 1 nói trên, nhưng phạm các tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho quân đội

Cùng tìm hiểu về thẩm quyền điều tra vụ án hình sự thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự

Quy định về thẩm quyền xét xử của tòa án quân sự

Theo điểm a khoản 1 Điều 272 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2015: “Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử: Vụ án hình sự mà bị cáo là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu; dân quân, tự vệ trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc phối thuộc với Quân đội nhân dân trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu; công dân được điều động, trưng tập hoặc hợp đồng vào phục vụ trong Quân đội nhân dân”.

Các đối tượng trên được xem là các đối tượng có nhân thân liên quan đến Quân đội (các đối tượng do Quân đội quản lý), do đó, khi phạm vào bất kỳ tội gì được quy định trong Bộ luật Hình sự và phạm tội ở bất kỳ nơi đâu thì đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự.

Công chức quốc phòng bao gồm những công dân được tuyển dụng vào phục vụ trong Quân đội hoặc từ sĩ quan chuyển sang và do các đơn vị doanh nghiệp Quân đội trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và Luật sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam;

Công nhân quốc phòng bao gồm: Những công dân được tuyển dụng thuộc biên chế của các đơn vị, doanh nghiệp quân đội; những công dân có hợp đồng lao động không xác định thời hạn trong các đơn vị, doanh nghiệp quân đội, nếu họ phạm tội khi đang thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo hợp đồng;

Quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện, diễn tập hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng động viên, tình trạng sẵn sàng chiến đấu theo quy định của pháp luật về lực lượng dự bị động viên;

Dân quân, tự vệ trong thời gian phối thuộc với Quân đội trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu theo quy định của pháp luật về dân quân, tự vệ;

Những người được trưng tập làm nhiệm vụ quân sự do các đơn vị quân đội trực tiếp quản lý bao gồm những công dân do nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc do nhiệm vụ quân sự khác được các đơn vị quân đội trưng tập và trực tiếp quản lý họ để đáp ứng các nhu cầu đó”.

Trường hợp nào cần đến tòa án quân sự

Về các đối tượng là người không do Quân đội quản lý và sử dụng, điểm b khoản 1 Điều 272 BLTTHS năm 2015 quy định: “Vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản 1 Điều này liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân, viên chức quốc phòng, quân nhân dự bị trong thời gian tập trung huấn luyện hoặc kiểm tra tình trạng sẵn sàng chiến đấu hoặc gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội nhân dân hoặc phạm tội trong doanh trại Quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ”.

Theo quy định tại Mục 2 Phần I Thông tư số 01/2005 trước đây thì đối tượng phạm tội không thuộc Quân đội quản lý, sử dụng thì vụ án vẫn thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự nếu: Họ phạm tội có liên quan đến bí mật quân sự hoặc gây thiệt hại cho Quân đội. Theo đó, bí mật quân sự là bí mật của Quân đội, bí mật về an ninh quốc phòng được xác định là bí mật quân sự và được quy định trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.

Gây thiệt hại cho Quân đội là gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tự do, danh dự, nhân phẩm của những người quy định tại khoản 1 Điều 3 của Pháp lệnh hoặc tài sản của những người này được Quân đội cấp phát để thực hiện nhiệm vụ quân sự; gây thiệt hại đến tài sản, danh dự, uy tín của Quân đội. Tài sản của Quân đội là tài sản do Quân đội quản lý, sử dụng, kể cả trường hợp Quân đội giao tài sản đó cho dân quân tự vệ hoặc bất kỳ người nào khác quản lý, sử dụng để chiến đấu, phục vụ chiến đấu hoặc thực hiện nhiệm vụ quân sự. Cũng được coi là gây thiệt hại cho Quân đội trong trường hợp người đang bị tạm giữ, tạm giam và chấp hành hình phạt tù trong nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại giam do Quân đội quản lý mà lại tiếp tục phạm tội”.

Như vậy, điểm b khoản 1 Điều 272 BLTTHS năm 2015 và mục 2 Phần I của Thông tư số 01/2005 đều xác định những vụ án hình sự mà bị cáo không thuộc Quân đội quản lý, sử dụng liên quan đến bí mật hoặc gây thiệt hại cho Quân đội thì thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2015 quy định bổ sung thêm đối tượng thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án quân sự là trường hợp cá nhân “phạm tội trong doanh trại Quân đội hoặc khu vực quân sự do Quân đội nhân dân quản lý, bảo vệ”. Quy định này bảo đảm được về đối tượng phạm tội do Tòa xét xử, nhưng việc xác định thế nào là phạm tội trong doanh trại Quân đội và khu vực quân sự gặp khá nhiều khó khăn. Do vậy, cần phải có các văn bản hướng dẫn áp dụng trường hợp này.

Về các đối tượng trong trường hợp thiết quân luật, khoản 2 Điều 272 BLTTHS năm 2015 quy định: “Tòa án quân sự có thẩm quyền xét xử tất cả tội phạm xảy ra trong địa bàn thiết quân luật”.

Trên đây là các thông tin đầy đủ giúp giải đáp các thắc mắc của bạn xoay quanh tòa án quân sự, hi vọng bài viết đã đem đến cho các bạn những cái nhìn rõ nhất về nội dung này.

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments