Thứ Bảy, Tháng Hai 24, 2024
Google search engine
Hometố tụng hình sựPhòng vệ chính đáng theo quy định của Bộ luật Hình sự

Phòng vệ chính đáng theo quy định của Bộ luật Hình sự

Nhằm khuyến khích cá nhân tự bảo vệ mình hoặc tham gia vào bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích của tổ chức, của người khác trước những hành vi tấn công xâm hại, luật hình sự ghi nhận phòng vệ chính đáng là một trong những trường hợp được loại trừ trách nhiệm hình sự.

1 – Khái niệm phòng vệ chính đáng

Phòng vệ chính đáng là chế định tồn tại từ lâu trong pháp luật hình sự Việt Nam và được ghi nhận trong hệ thống pháp luật của nhiều nước trên thế giới. Phòng vệ chính đáng trong nhiều trường hợp cũng có thể gây thiệt hại cho một chủ thể nào đó, nhưng vì có những yếu tố làm cho tính nguy hiểm cho xã hội không còn, thậm chí phù hợp với lợi ích của xã hội, được xã hội khuyến khích và được pháp luật ghi nhận.

Khái niệm phòng vệ chính đáng được ghi nhận tại khoản 1 Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015, theo đó: “Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên”.

Với khái niệm này có thể thấy rằng, mục đích của việc phòng vệ là nhằm ngăn chặn, đẩy lùi hành vi tấn công và hạn chế bớt những thiệt hại của hành vi tấn công gây ra hoặc có thể gây ra đối với các lợi ích quan trọng của xã hội. Chính vì vậy, phòng vệ chính đáng không bị xem là tội phạm.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

2 – Điều kiện của phòng vệ chính đáng

Để được coi là phòng vệ chính đáng phải đảm bảo các điều kiện cần thiết liên quan đến hành vi tấn công, hành vi chống trả. Đó là các điều kiện để xác định cơ sở phát sinh quyền phòng vệ cũng như điều kiện để được xem là phòng vệ chính đáng. Căn cứ vào quy định của pháp luật hình sự, một người thực hiện hành vi nguy hiểm gây nguy hại cho xã hội được xem là phòng vệ chính đáng khi thỏa mãn các điều kiện sau:

[a] Điều kiện về hành vi tấn công

Thứ nhất, hành vi tấn công phải xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, quyền và lợi ích hợp pháp của người phòng vệ hoặc của người khác. Nguồn gây nguy hiểm cho các lợi ích cần được bảo vệ chính là hành vi của con người, nếu hành vi gây nguy hại không phải do con người gây ra thì không được xem là phòng vệ chính đáng. Những lợi ích được luật hình sự bảo vệ, bị hành vi tấn công xâm hại là những lợi ích quan trọng, hợp pháp cần được bảo vệ.

Thứ hai, phải có hành vi tấn công xâm hại đang diễn ra. Đây chính là điều kiện để xem xét về thời điểm phát sinh quyền phòng vệ. Theo đó, hành vi tấn công đang diễn ra được xét ở ba thời điểm:

(i) Hành vi tấn công chưa bắt đầu, nhưng người tấn công thực hiện hành vi liền trước để hỗ trợ cho hành vi tấn công. Ví dụ: A có hành vi cúi xuống nhặt dao để chém B, trường hợp này B có quyền phòng vệ ngay tại thời điểm A cúi xuống nhặt dao, lúc này, hành vi tấn công để chém B chưa xảy ra, nhưng có nguy cơ xảy ra ngay tức khắc, nên chủ thể có quyền phòng vệ;

(ii) Hành vi tấn công đang diễn ra mà chưa kết thúc;

(iii) Hành vi tấn công đã kết thúc, nhưng quyền phòng vệ phát sinh liền ngay sau đó để ngăn chặn, khắc phục hậu quả. Ví dụ: A có hành vi giật túi xách của chị B, ngay lúc A mới giật xong thì C thấy, tại thời điểm này C có quyền chống trả (cần thiết) để lấy lại túi xách cho chị B. Sự chống trả tại thời điểm hành vi tấn công kết thúc này vẫn được xem là phòng vệ chính đáng.

Ngoài những thời điểm nói trên, hành vi chống trả không được xem xét để áp dụng phòng vệ chính đáng, những trường hợp này có thể rơi vào trường hợp phòng vệ quá sớm hoặc phòng vệ quá muộn hoặc phòng vệ tưởng tượng, và những trường hợp này vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

[b] Điều kiện về hành vi chống trả để phòng vệ

Hành vi chống trả để phòng vệ chỉ được coi là phòng vệ chính đáng khi thoả mãn các điều kiện sau:

Thứ nhất, hành vi phòng vệ phải nhằm vào chính người có hành vi tấn công hoặc công cụ, phương tiện họ đang sử dụng. Thiệt hại do hành vi phòng vệ gây ra là thiệt hại cho chính người có hành vi tấn công chứ không được nhằm vào người khác và gây thiệt hại khác của họ.

Hành vi phòng vệ chống trả nếu vô ý gây thiệt hại cho người khác không phải là người tấn công thì người phòng vệ vẫn phải chịu trách nhiệm về thiệt hại đó. Mặt khác, mục đích của hành vi phòng vệ phải nhằm ngăn chặn, đẩy lùi sự tấn công từ phía người tấn công mà không được nhằm mục đích khác.

Thứ hai, hành vi phòng vệ chống trả phải là “cần thiết”. Thuật ngữ “cần thiết” là ranh giới để xác định phòng vệ chính đáng hay vượt quá yêu cầu do phòng vệ chính đáng. Do đó, việc chứng minh giới hạn này rất quan trọng trong thực tiễn tố tụng hình sự.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

3 – Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng

Phòng vệ chính đáng là một chế định được pháp luật hình sự ghi nhận để khuyến khích công dân tham gia vào việc bảo vệ các lợi ích cần thiết của xã hội, tuy nhiên, pháp luật hình sự không khuyến khích và không cho phép một người nào đó gây ra thiệt hại vượt quá mức cần thiết khi chống trả hành vi tấn công để bảo vệ các lợi ích trên. Chính vì vậy, khi một người thực hiện hành vi vượt quá mức cần thiết sẽ bị xem là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật Hình sự năm 2015: “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại”.

Trong thực tiễn đấu tranh và cơ sở lý luận khoa học luật hình sự, việc đánh giá xem hành vi chống trả khi phòng vệ có “vượt quá mức cần thiết” hay không, về cơ bản căn cứ vào những tiêu chí sau:

(i) Xét về tính chất và mức độ quan trọng của quan hệ xã hội (lợi ích) mà hành vi tấn công xâm hại, so với quan hệ xã hội mà hành vi chống trả hướng đến gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại. Ví dụ: A vào nhà B để trộm chiếc xe máy của B, khi phát hiện hành vi trộm cắp của A, B đã dùng dao đâm chết A. Như vậy, hành vi chống trả để bảo vệ lợi ích của B là “vượt quá mức cần thiết”;

(ii) Xét về mức độ thiệt hại mà hành vi tấn công gây ra hoặc/và đe dọa gây ra cho các lợi ích cần được bảo vệ. Theo đó, nếu thiệt hại mà hành vi chống trả gây ra rõ ràng lớn hơn thiệt hại do hành vi tấn công gây ra thì trường hợp này bị xem là vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng;

(iii) Xét về tính chất, mức độ nguy hiểm của phương pháp, phương tiện, công cụ của kẻ tấn công thực hiện hoặc đe dọa thực hiện;

(iv) Xét về mức độ của hành vi tấn công xâm hại và khả năng phòng vệ của người chống trả.

Ngoài ra, có thể xem xét thêm các yếu tố khác như thời gian, địa điểm, hoàn cảnh… phạm tội để có sự đánh giá tính cần thiết khách quan và chính xác hơn.

Xem thêm: Dịch vụ trợ lý pháp lý từ xa của Công ty Luật TNHH Everest

3 – Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Phòng vệ chính đáng theo quy định của Bộ luật Hình sự được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Phòng vệ chính đáng theo quy định của Bộ luật Hình sự có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments