Hiện nay, từ thực tại cho thấy có nhiều vụ việc từ vi phạm hành chính nếu không chấp hành có thể dẫn đến vi phạm hình sự (tội phạm). Tuy nhiên nhiều người vẫn chưa hiểu và phân biệt được giữa vi phạm hành chính và tội phạm. Bài viết này sẽ giúp mọi người tìm hiểu rõ hơn về sự khác biệt của hai loại vi phạm này.

I-Khái niệm:

1-Khái niệm vi phạm hình sự (tội phạm):

Vi phạm hình sự (hay còn gọi là tội phạm)  là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.

2- Khái niệm vi phạm hành chính:

Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính.

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính.

3- Sự giống nhau giữa vi phạm hình sự và vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính và tội phạm là hai khái niệm khác nhau nhưng đều có những điểm chung sau đây:

– Vi phạm hành chính và tội phạm đều là hành vi vi phạm pháp luật.

– Chủ thể vi phạm hành chính và chủ thể của tội phạm đều phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng với tính chất, mức độ của hành vi vi phạm pháp luật.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư hợp đồng của Công ty Luật TNHH Everest

II- Sự khác nhau:

1-Căn cứ pháp lý:

-Vi phạm hành chính:      Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012;

                                    Luật Tố tụng hành chính năm 2015.

-Vi phạm hình sự:           Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

2- Về mặt khách quan:

2.1- Về hành vi khách quan:

– Vi phạm hành chính: Hành vi trái pháp luật hành chính được thể hiện dưới dạng hành động (chủ thể thực hiện những hành vi bị pháp luật hành chính ngăn cấm) hoặc không hành động (chủ thể không thực hiện những hành vi mà pháp luật hành chính bắt buộc phải thực hiện). Nếu không có hành vi trái pháp luật hành chính của chủ thể thì không thể cấu thành vi phạm hành chính.

– Vi phạm hình sự: Trong số các dấu hiệu của mặt khách quan, dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi tội phạm. Nếu không có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có tội phạm, vì vậy Điều 8 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Chỉ có hành vi nguy hiểm cho xã hội mới gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ.

Hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện bằng phương pháp hành động hoặc bằng phương pháp không hành động.

2.2 – Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi:

– Vi phạm hành chính: Vi phạm hành chính có mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm được đánh giá ở nhiều yếu tố khác nhau và những yếu tố này thường được quy định trong các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

– Vi phạm hình sự: Hành vi đó phải gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội. Nguy hiểm đáng kể ở đây là theo Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

2.3- Hậu quả của hành vi:

– Vi phạm hành chính: Hậu quả do hành vi trái pháp luật hành chính gây ra cho xã hội (sự thiệt hại của xã hội). Hành vi trái pháp luật hành chính ở những mức độ khác nhau đều có tính nguy hiểm cho xã hội, nó có thể gây ra hoặc chứa đựng nguy cơ gây ra những thiệt hại về vật chất, tinh thần và những thiệt hại khác cho xã hội.

Mức độ nguy hiểm cho xã hội của vi phạm hành chính được đánh giá, xác định thông qua mức độ thiệt hại trên thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội mà hành vi đó gây ra.

– Vi phạm hình sự: Hậu quả của tội phạm là một trong các dấu hiệu khách quan của cấu thành tội phạm, là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho các quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ, có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao. Hậu quả của tội phạm bao gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần.

Thiệt hại vật chất là những thiệt hại đo đếm, xác định được mức độ nhất định như chết người, gây thương tích với tỷ lệ % tổn hại sức khỏe, thiệt hại tài sản được quy ra bằng tiền;

Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại khác mà không xác định được lượng mức độ thiệt hại như tội vu khống, tội làm nhục người khác.

2.4- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả:

– Vi phạm hành chính: Sự thiệt hại cho xã hội trên thực tế là hệ quả tất yếu của hành vi trái pháp luật hành chính, do chính hành vi trái pháp luật hành chính gây ra. Như đã nêu ở trên, hậu quả của vi phạm hành chính có thể là những thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây ra thiệt hại cho xã hội. Trong một số trường hợp, đối với một số vi phạm hành chính cụ thể, nhà làm luật quy định hành vi của chủ thể chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi hành vi đó đã gây ra những thiệt hại trên thực tế. Trong những trường hợp này, việc xác định mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật hành chính với hậu quả (sự thiệt hại của xã hội) mà nó gây ra là điều hết sức cần thiết để khẳng định có vi phạm hành chính hay không.

-Vi phạm hình sự: Hậu quả tác hại của tội phạm có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm. Tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi hành vi nguy hiểm đã gây ra hậu quả tác hại. Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội theo quy định của điều luật cụ thể trong Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm là mối quan hệ giữa các hiện tượng trong đó một hiện tượng được gọi là nguyên nhân (là hành vi khách quan) làm phát sinh một hiện tượng khác là kết quả (là hậu quả của tội phạm).

2.5- Mặt chủ quan:

– Vi phạm hành chính:    Vi phạm hành chính có hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý.

Các trường hợp vi phạm mà lỗi cố ý trực tiếp hay gián tiếp hoặc vô ý vì quá tự tin hay do cẩu thả đều xử lý như nhau.

– Vi phạm hình sự:         Tội phạm có bốn hình thức lỗi, đó là lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, lỗi vô ý vì quá tự tin và cố ý do cẩu thả. Như vậy do tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà từng trường hợp lỗi là khác nhau, và tội phạm là loại vi phạm pháp luật nặng nhất nên quy định bốn hình thức lỗi giúp giải quyết chính xác các vụ án hình sự.

2.6- Khách thể:

– Vi phạm hành chính: Khách thể của vi phạm hành chính là những quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ nhưng bị vi phạm hành chính xâm hại, gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại. Khách thể chính là dấu hiệu để nhận biết: Vi phạm hành chính là hành vi xâm hại đến trật tự quản lý hành chính nhà nước được pháp luật hành chính quy định và bảo vệ.

– Vi phạm hình sự: Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại.

2.7- Chủ thể:

– Vi phạm hành chính: Chủ thể vi phạm hành chính là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm hành chính, nghĩa là theo quy định của pháp luật hành chính, họ phải chịu trách nhiệm đối với hành vi trái pháp luật của mình. Đối với cá nhân, họ phải là người đạt độ tuổi nhất định, có đầy đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

– Vi phạm hình sự: Theo Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại.

III- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Phân biệt vi phạm hình sự và vi phạm hành chính được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Phân biệt vi phạm hình sự và vi phạm hành chính có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here