Tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản là hai tội danh rất dễ nhầm lẫn trong quá trình nghiên cứu và áp dụng thực tiễn. Ở bài viết này Everest sẽ khái quát một số điểm khác nhau về cấu thành tội phạm của hai tội danh này để người đọc dễ phân biệt.

I-Về khái niệm

1-Tội cướp tài sản:

Căn cứ pháp lý tại Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015:

-Cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, đẩy nạn nhân vào tình trạng không thể chống trả để lấy tài sản của họ. Bản chất của loại tội phạm này chính là cướp.

Trên thực tế, khái niệm cướp tài sản vô cùng quen thuộc và gần gũi với người dân, Ta thường nghe về cướp tài sản rất nhiều trong cuộc sống thường nhật. Hành vi này gây ra những ảnh hưởng và hệ lụy nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của mỗi cá nhân cũng như trật tự an toàn xã hội. Chính vì vậy, Nhà nước đã đưa ra những quy định xử lý về tội cướp tài sản. Theo đói, chủ thể nào có hành vi cướp tài sản với đầy đủ các yếu tố cấu thành, sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

2- Tội cưỡng đoạt tài sản:

Căn cứ pháp lý tại Điều 170 Bộ luật Hình sự năm 2015:

-Cưỡng đoạt tài sản là hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản. Ở đây, chủ thể vi phạm đe dọa, uy hiếp tinh thần của nạn nhân nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của họ.

Cũng như các tội cướp tài sản, bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản cũng xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Cả hai quan hệ này đều là khách thể trực tiếp của tội cưỡng đoạt tài sản. Việc xếp tội cưỡng đoạt tài sản vào chương Các tội xâm phạm sở hữu xuất phát từ quan điểm như quan điểm xếp tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiểm đoạt tài sản vào chương Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật Hình sự

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest 

II- So sánh sự giống và khác nhau

1-Sự giống nhau

– Cả hai đều được thực hiện do hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích của tội phạm đều nhằm chiếm đoạt tài sản.

– Đều xâm phạm đến quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức

– Sự giống nhau về cấu thành tội phạm

-Mặt khách thể:

+ Xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác;

+ Xâm phạm đến quyền nhân thân do có thực hiện hành vi tác động đến người đang quản lý tài sản.

-Mặt chủ thể: Đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự (từ 14 tuổi trở lên). Tuy nhiên đối với cưỡng đoạt tài sản thì “người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi” chỉ  phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Theo đó, nếu tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng thì phải từ đủ 16 tuổi mới chịu trách nhiệm hình sự.

-Lỗi: Cố ý trực tiếp với mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản (mục đích bắt buộc).

-Loại cấu thành tội phạm: Đều là cấu thành hình thức tức là thời điểm hoàn thành tội phạm là thời điểm thực hiện hành vi không xét đến việc đã chiếm đoạt được tài sản hay chưa.

2- Sự khác nhau

[a] Về trạng thái của bị hại

– Tội cướp tài sản: Người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.

– Tội cưỡng đoạt tài sản: Nạn nhân vẫn có thời gian để chống cự, không ngay lập tức mất hoàn toàn khả năng chống cự như cướp tài sản.

[b] Về mặt khách quan

– Tội cướp tài sản: Dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Trong đó, dùng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh vật chất tấn công người chủ tài sản, người quản lý tài sản hoặc bất kỳ người nào khác ngăn cản việc chiếm đoạt của người phạm tội nhằm đè bẹp sự phản kháng, làm tê liệt ý chí của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản. Hành vi dùng vũ lực thường là đấm, đá, trói… hoặc kèm theo sử dụng các phương tiện, công cụ như dao, súng…;

Đe dọa dùng vũ lực trong tội cướp tài sản còn tính đến yếu tố “ngay tức khắc”, tức là, nó có tính chất mãnh liệt hơn làm cho người bị đe dọa thấy rằng khi bị đe dọa nếu họ không làm theo yêu cầu của người phạm tội thì người phạm tội sẽ dùng vũ lực ngay với mình và họ sẽ không hoặc khó có điều kiện tránh khỏi, việc này.

– Tội cưỡng đoạt tài sản: Đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản.

Trong đó, dùng vũ lực được hiểu là dùng sức mạnh vật chất tấn công người chủ tài sản, người quản lý tài sản hoặc bất kỳ người nào khác ngăn cản việc chiếm đoạt của người phạm tội nhằm đè bẹp sự phản kháng, làm tê liệt ý chí của nạn nhân để chiếm đoạt tài sản. Hành vi dùng vũ lực thường là đấm, đá, trói… hoặc kèm theo sử dụng các phương tiện, công cụ như dao, súng…;

Đe dọa dùng vũ lực trong tội cưỡng đoạt tài sản thì có tính chất nhẹ hơn, người bị đe dọa cảm nhận được giữa hành vi đe dọa và việc dùng vũ lực có khoảng cách về thời gian.

[c] Mặt chủ quan

– Tội cướp tài sản:  Mục đích phạm tội được quy định là mục đích chiếm đoạt tài sản. Khi thực hiện hành vi dùng vũ lực; đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể kháng cự được, chủ thể thực hiện có mục đích chiếm đoạt tài sản.

– Tội cưỡng đoạt tài sản: Về nguyên tắc mục đích chiếm đoạt tài sản phải có trước hành vi đe doạ sẽ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần khác. Nhưng cũng có trường hợp chuyển hoá tội phạm, có nghĩa là người phạm tội đã thực hiện một tội phạm khác, nhưng sau đó lại xuất hiện mục đích chiếm đoạt tài sản, thì cũng phạm vào tội này. Mục đích phạm tội được quy định là mục đích chiếm đoạt tài sản. Việc thực hiện hành vi đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc hành vi uy hiếp tinh thần đã được quy định là nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Neu không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì các hành vi này không phải là hành vi cưỡng đoạt tài sản.

Do “chiếm đoạt” chỉ được quy định là mục đích nên việc xác định thời điểm tội phạm hoàn thành của tội cưỡng đoạt tài sản chỉ phụ thuộc vào việc chủ thể đã thực hiện hành vĩ đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc hành vi uy hiếp tinh thần được mô tả trong điều luật như trình bày trên mà không phụ thuộc vào việc chủ thể đã thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản hay chưa

[d] Mặt khách thể

– Tội cướp tài sản: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước của tô chức và công dân.

– Tội cưỡng đoạt tài sản: Hành vi nêu trên xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác.

[e] Mặt chủ thể

– Tội cướp tài sản: Chủ thể của tội cướp tài sản được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 là người từ đủ 14 tuổi trở lên

– Tội cưỡng đoạt tài sản: Chủ thể của tội cưỡng đoạt tài sản được quy định là chủ thể bình thường và theo Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015 là người từ đủ 14 tuổi trở lên nếu hành vi phạm tội thuộc các khoản 2, 3 và 4 của điều luật hoặc là người từ đủ 16 tuổi trở lên nếu hành vi phạm tội thuộc khoản 1 của điều luật.

III- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Phân biệt tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Phân biệt tội cướp tài sản và tội cưỡng đoạt tài sản có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here