Thứ Bảy, Tháng Sáu 15, 2024
Google search engine
HomeChưa phân loạiNGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM

NGÀNH LUẬT HIẾN PHÁP Ở VIỆT NAM

Luật Hiến pháp Việt Nam là ngành luật chủ đạo trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Các chế định, quy phạm của luật Hiến pháp Việt Nam là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng, bổ sung, sửa đổi hoặc hủy bỏ các chế định, quy phạm của các ngành luật khác trong hệ thống Việt Nam.

Đình chỉ vụ án hình sự là gì theo quy định pháp luật

I- Định nghĩa ngành luật hiến pháp

Căn cứ vào khái niệm đối tượng điều chỉnh, phương pháp điều chỉnh và quy phạm pháp luật phân tích trên đây, có thể định nghĩa ngành luật hiến pháp một cách cụ thế như sau: Ngành luật hiến pháp là tống thế các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành, điều chỉnh những quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng nhất trong xã hội gắn với việc xác định chế độ chỉnh trị, chỉnh sách cơ bản trong lĩnh vực kỉnh tế, vãn hoá, xã hội, giáo dục, khoa học, công nghệ, quốc phòng và an ninh, đối ngoại; quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân; tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và các cơ quan trong bộ máy nhà nước. Ngành luật hiến pháp là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam và sự độc lập của ngành luật hiến pháp được xác lập bởi các đặc điểm riêng của đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh của ngành luật này như phân tích ở các mục trên.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư riêng của Công ty Luật TNHH Everest

Nội quy phiên tòa tố tụng theo quy định pháp luật
Nội quy phiên tòa tố tụng theo quy định pháp luật

II- Hệ thống ngành luật hiến pháp

Ngành luật hiến pháp không phải là một tập hợp hỗn độn các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng trong xã hội. Trái lại, ngành luật hiến pháp là một tập hợp có hệ thống các quy phạm pháp luật theo các bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ngoài bộ ngành luật hiến pháp xuất phát từ đặc điểm thứ nhất. Nếu đặc điểm thứ nhất là đặc điểm về nội dung thì đặc điểm này có thể được coi là đặc điểm về hình thức. Mặc dù đây là đặc điểm quan trọng của quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp song không phải không có những quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp có đủ co cấu ba bộ phận,

Ngành luật hiến pháp không phải là một tập hợp hỗn độn các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội nền tảng, cơ bản và quan trọng trong xã hội. Trái lại, ngành luật hiến pháp là một tập họp có hệ thống các quy phạm pháp luật theo các bộ phận có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ngoài bộ phận cấu thành nhỏ nhất là quy phạm pháp luật, hệ thống ngành luật hiến pháp còn được cấu thành bởi hai bộ phận là các nguyên tắc bao trùm (các nguyên tắc chung) và các chế định.

* Các nguyên tắc bao trùm của ngành luật hiến pháp: Nếu các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp thường mang tính khái quát thì các nguyên tắc bao trùm thậm chí còn mang tính khái quát cao hơn, đó là các tư tưởng, quan điểm mang tính chủ đạo đối với toàn bộ các chế định và quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp, chúng chi phối nội dung của các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp ở tất cả các lĩnh vực. Có ba nguyên tắc bao trùm của ngành luật hiến pháp:

-Nguyên tắc chủ quyền nhân dân: Nguyên tắc này được thể hiện xuyên suốt trong các chế định và quy định của ngành luật hiến pháp mà trực tiếp nhất là tại khoản 2 Điều 2 và Điều 3 của Hiến pháp năm 2013. Nội dung của nguyên tắc này là đặt con người vào vị trí trung tâm của tất cả các công việc của nhà nước và xã hội, từ ngay trong lĩnh vực chính trị tới các chính sách trong lĩnh vực kinh tế, xã hội, văn hoá, giáo dục, khoa học và công nghệ, đến các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ bản của người dân cũng như lĩnh vực tố chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

-Nguyên tắc nhà nước pháp quyền quan hệ xã hội: Nguyên tắc này được quy định tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013. Nguyên tắc nhà nước pháp quyền quan hệ xã hội yêu cầu tôn trọng, bảo đảm quyền con người trong mọi lĩnh vực mà ngành luật hiến pháp điều chỉnh và tôn trọng tính tối cao của pháp luật trong mọi mặt tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước.

-Nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết giữa các dân tộc: Nguyên tắc này được thể hiện một cách rõ ràng ở Điều 5 Hiến pháp năm 2013. Nội dung của nguyên tắc là ngành luật hiến pháp trong mọi lĩnh vực điều chỉnh của mình phải bảo đảm không có sự phân biệt giữa các dân tộc, các dân tộc thiếu số hoặc ở những địa bàn khó khăn phải được hưởng những chính sách ưu tiên phù hợp. Bộ phận cấu thành nhỏ nhất là quy phạm pháp luật, hệ thống ngành luật hiến pháp còn được cấu thành bởi hai bộ phận là các nguyên tắc bao trùm (các nguyên tắc chung) và các chế định.

-Các chế định của ngành luật hiến pháp:

“Chế định” là một trong những khái niệm cơ bản của luật học. Thuật ngữ “chế định” đuợc dùng để chỉ tập hợp các quy phạm pháp luật của một ngành luật điều chỉnh một nhóm các quan hệ xã hội cùng loại, tức là có cùng tính chất hay đặc điểm nhất định. Có thể hình dung rằng mỗi ngànhluật đều là tập họp của nhiều chế định đuợc hình thành trên cơ sở các quy phạm pháp luật điều chỉnh các nhóm quan hệ xã hội có cùng tính chất, đặc điểm trong tổng thể các quan hệ xã hội là đối tượng điều chỉnh của ngành luật đó. cần lưu ý rằng, xác định các chế định trong một ngành luật là một việc làm linh hoạt. Một ngành luật có thể có một số chế định lớn và trong chế định lớn có thể có chế định nhỏ tùy thuộc phạm vi của các quan hệ xã hội có cùng tính chất mà các chế định điều chỉnh. “Chế định” cũng là một khái niệm có ý nghĩa thực tiễn đối với công tác lập pháp và hoàn thiện pháp luật. Các quan hệ xã hội cùng loại luôn đòi hỏi sự điều chỉnh nhất quán và do đó các quy phạm pháp luật trong chế định tương ứng cũng phải được xây dựng thống nhất với nhau.

Như vậy, chế định của ngành luật hiến pháp là tập họp các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội có cùng loại trong phạm vi đối tượng điều chỉnh của ngành luật hiến pháp. Ngành luật hiến pháp có các chế định lớn cơ bản như sau:

-Chế định về chế độ chính trị bao gồm các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp điều chỉnh các vấn đề cơ bản và quan trọng nhất trong lĩnh vực tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước.

-Chế định về mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với công dân Việt Nam và người dân sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm các quy phạm pháp luật của ngành luật hiến pháp quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trên lãnh thổ Việt Nam. Chế định này cũng có thể được gọi là chế định quyền cơ bản của người dân.

III- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Ngành luật hiến pháp ở nước Việt Nam được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Ngành luật hiến pháp ở nước Việt Nam có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments