Thứ Bảy, Tháng Bảy 2, 2022
Google search engine
Hometội xâm phạm chế độ hôn nhânThế nào là mang thai hộ và quy định pháp luật đối...

Thế nào là mang thai hộ và quy định pháp luật đối với mang thai hộ

Nhiều người thường bị nhầm lẫn giữa “đẻ thuê” với mang thai hộ và thường quy chụp hai trường hợp này là như nhau. Vậy mang thai hộ là gì? Cùng Luật Hình sự theo dõi bài viết dưới đây để có thể phân biệt được hai trường hợp này qua bài viết sau nhé!

Khái niệm mang thai hộ

Theo quy định tại Điều 3 Luật Hôn nhân Gia đình 2014 thì có 02 hình thức, là mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và vì mục đích thương mại.
Tại khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân Gia đình 2014 giải thích cụ thể về việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo chính là việc một người phụ nữ trên tinh thần tự nguyện, không vì mục đích thương mại nào mà đã giúp mang thai cho một cặp vợ chồng nào đó khi người vợ không thể mang thai và sinh con được ngay cả khi họ đã áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Việc mang thai hộ được thực hiện bằng việc lấy noãn của người vợ và lấy tinh trùng của người chồng để kết hợp thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó dùng để cấy vào tử cung của người phụ nữ mà đã tự nguyện mang thai. Lúc này, người phụ nữ này sẽ mang thai và sinh con hộ cho cặp vợ chồng kia.

Còn theo khoản 23 Điều 3 Luật Hôn nhân Gia đình 2014 thì mang thai hộ vì mục đích thương mại được hiểu là việc một người phụ nữ đã mang thai cho người khác, việc này được thực hiện bằng việc áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Mục đích của việc mang thai này là nhằm hưởng lợi ích về kinh tế hoặc lợi ích khác từ người nhờ mang thai.

Quy định pháp luật về mang thai hộ

Hiện nay, pháp luật Việt Nam chỉ cho phép việc mang mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, đồng thời pháp luật không cho phép việc mang thai hộ vì mục đích thương mại.

mang thai hộ
Thế nào là mang thai hộ và quy định pháp luật

Xử lý thế nào đối với tội mang thai hộ vì mục đích thương mại

Mặc dù pháp luật quy định việc cấm đẻ thuê và mang thai hộ vì mục đích thương mại. Tuy nhiên, những quy định rõ ràng để xử lý đối với bên thuê và bên được thuê thì lại chưa có quy định.
Theo quy định của pháp luật Hình sự hiện hành, tại Điều 187 BLHS 2015 chỉ có quy định về việc xử lý hình sự đối với người nào mà tổ chức việc mang thai hộ với mục đích thương mại. Cụ thể người nào có hành vi tổ chức việc mang thai hộ vì mục đích thương mại thì sẽ bị phạt tiền từ 50 triệu đồng – 200 triệu đồng, cải tạo không giam giữ tới 02 năm hoặc là bị áp dụng hình thức phạt tù từ 03 tháng – 02 năm tuỳ theo tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội (tổ chức việc mang thai hộ trái pháp luật) gây ra.

Nếu người này phạm tội đối với từ 02 người trở lên, hay từ 02 lần trở lên hoặc phạm tội mà lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức hoặc thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm thì sẽ bị áp dụng mức phạt tù từ 01 năm – 05 năm.

Ngoài ra, nếu xét thấy cần thiết thì Toà án cũng có thể áp dụng các hình phạt bổ sung với người phạm tội như phạt tiền từ 10 triệu đồng – 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ hay cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm – 05 năm.

Phân biệt giữa ” đẻ thuê” với ” mang thai hộ”

“Đẻ thuê” là việc một bên thuê một người phụ nữ để mang thai hộ và sinh con thay cho một người khác. Sau khi người phụ nữ này mang thai và sinh con xong thì sẽ trao lại đứa trẻ cho bên thuê để nhận về lại một khoản tiền hoặc một khoản lợi ích vật chất khác.
Hiện nay, đẻ thuê phổ biến với 02 hình thức là, thức nhất là sử dụng phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm để người phụ nữ đẻ thuê mang thai hộ hoặc là trường hợp người chồng của bên thuê sẽ “quan hệ trực tiếp” với bên được thuê (người phụ nữ mang thai hộ) để có thai.
Đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong quá trình thụ thai. Ngoài ra, cả bên mang thai hộ và bên nhờ mang thai hộ đều phải đáp ứng được một số điều kiện nhất định theo quy định.

mang thai hộ
Thế nào là mang thai hộ và quy định pháp luật

Cụ thể tại Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định về điều kiện để thực hiện việc mang thai hộ là:

– Thực hiện dựa trên cơ sở tự nguyện của cả hai bên và được lập thành văn bản.

  • – Điều kiện của vợ chồng nhờ người mang thai hộ: khi có sự xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền rằng người vợ sẽ không thể mang thai và sinh con dù có được áp dụng các kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, đồng thời, cặp vợ chồng này đang không có con chung và họ đã được tư vấn kỹ về y tế, về pháp lý và cả tâm lý khi thực hiện việc nhờ mang thai
  • – Điều kiện của người được nhờ mang thai hộ: người này phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc chồng mà nhờ mang thai, đồng thời người này cũng đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần; đang ở độ tuổi phù hợp và có sự xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc mang thai hộ; nếu trường hợp người phụ nữ mà mang thai hộ đã có chồng thì bắt buộc phải có sự đồng ý bằng văn bản của chồng; và người này cũng đã được tư vấn kỹ càng về y tế, pháp lý, tâm lý khi thực hiện việc mang thai hộ cho người khác.
  • – Việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo sẽ không được trái với các quy định của pháp luật về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản.
    Có thể thấy, các điều kiện để việc mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện rất phức tạp và khó khăn. Do đó, hiện nay tình trạng mang thai hộ vì mục đích thương mại hay “đẻ thuê” bất hợp pháp diễn ra phổ biến.

Trên đây là những chia sẻ của chúng tôi. Bạn có thể tham khảo thêm Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân gia đình như Tảo hôn tại đây. Chúc bạn thành công!

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments