Thứ Bảy, Tháng Tư 13, 2024
Google search engine
Hometội phạmLừa đảo chiếm đoạt tài sản có phạm tội không?

Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có phạm tội không?

Mặt trái của cơ chế thị trường mang lại những sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, sự tha hóa trong lối sống tiêu cực, các tệ nạn xã hội gia tăng… là cơ sở phát sinh các tội phạm như trộm cắp tài sản, cướp tài sản, … trong đó tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu có diễn biến phức tạp, xảy ra thường xuyên và ngày càng gia tăng.

1- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là gì?

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở hữu, là việc người phạm tội đã dùng những thủ đoạn gian dối, đưa ra những thông tin sai sự thật, có thể bằng lời nói hoặc hành động làm cho người có tài sản hoặc người có trách nhiệm trông giữ, quản lý tài sản tin, tưởng giả là thật, mà “tự nguyện” giao tài sản cho người phạm tội.

Theo Điều 174 BLHS năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:…”

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự

2- Đặc điểm của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Một là, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xâm hại đến quyền sở hữu của nhà nước, tổ chức xã hội hoặc cá nhân. Tài sản là đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có nghĩa là tài sản này thuộc bất cứ hình thức sở hữu nào được pháp luật thừa nhận, có thể là của Nhà nước, tổ chức hoặc cá nhân công dân.

Hai là, hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lừa đảo được thực hiện bằng thủ đoạn gian dối, tức là người phạm tội đã đưa ra những thông tin không đúng sự thật để người khác tin là thật mà giao tài sản cho người phạm tội. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi người bị hại giao tài sản cho người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tùy từng trường hợp cụ thể mới cấu thành các tội phạm khác. Để lừa đảo chiếm đoạt được tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản, người phạm tội đã sử dụng nhiều cách thức khác nhau như: Nói dối, giả mạo giấy tờ, giả danh người có chức vụ quyền hạn, giả danh Nhà nước, cơ quan tổ chức để thực hiện các ký kết hợp đồng,…mục đích của hành vi gian dối là làm cho người có tài sản tin tưởng mà trao tài sản cho người phạm tội.

Ba là, lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, tức là người phạm tội biết tài sản mà mình chiếm đoạt là tài sản đang thuộc sở hữu hợp pháp của người khác nhưng vẫn mong muốn biến thành tài sản của mình một cách trái pháp luật. Mục đích của người phạm tội chính là chiếm đoạt được tài sản, mục đích này bao giờ cũng có trước hành vi gian dối, đây là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

3- Dấu hiệu pháp lý của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Khác thể: Là quan hệ sở hữu về tài sản. Tài sản ở đây phải được thể hiện dưới dạng vật chất, tài sản đó phải đang nằm trong sự quản lý của chủ tài sản.

Mặt khách quan:

– Dấu hiệu hành vi khách quan: Thể hiện dưới hai hành vi thực tế là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt tài sản.

– Dấu hiệu hậu quả của tội phạm: Tội có cấu thành vật chất, nghĩa là trong cấu thành tội phạm có phản ánh dấu hiệu hậu quả nguy hiểm cho xã hội. 

– Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm: Hành vi gian dối phải diễn ra trước hành vi chiếm đoạt và là cơ sở chủ yếu để quyết định việc chiếm đoạt được tài sản của người phạm tội

Chủ thể: Là chủ thể thường theo quy định của Điều 12 BLHS năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Mặt chủ quan: 

– Dấu hiệu lỗi: 

+ Về lý trí: Người phạm tội đã nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả là hành vi của mình sẽ gây thiệt hại về tài sản cho người khác, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp của chủ tài sản.

+ Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra mà cụ thể là mong muốn chiếm đoạt được tài sản của người khác.

+ Động cơ và mục đích phạm tội: Có thể có nhiều động cơ hoặc mục đích khác nhau nhưng chủ yếu là động cơ vụ lợi như do tham lam, hoàn cảnh,… nhưng không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản, tức là người phạm tội khi thực hiện hành vi đã đặt ra kết quả trong ý thức chủ quan của người đó là phải đạt được việc dịch chuyển trái pháp luật tài sản đang thuộc sự quản lý của người khác thành tài sản của mình. Người phạm tội có thể có mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt tài sản hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm thì người phạm tội cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự

4- Hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Tại Điều 174 BLHS năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đã quy định 04 khung hình phạt chính tương ứng với bốn mức độ hậu quả khác nhau và 01 khung hình phạt bổ sung, cụ thể:

Khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định chế tài lựa chọn giữa hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù. Người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm khi thỏa mãn các dấu hiệu:

– Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

– Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

– Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

– Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

Khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) là khung tăng nặng thứ nhất, quy định chế tài lựa chọn mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù khi thỏa mãn các tình tiết.

– Có tổ chức;

– Có tính chất chuyên nghiệp;

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

– Tái phạm nguy hiểm;

– Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

– Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

Khoản 3 Điều 174 BLHS năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định khung hình phạt tăng nặng thứ hai, mức hình phạt từ 07 năm đến

– Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;15 năm tù khi thỏa mãn một trong các điều kiện

– Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

Khoản 4 Điều 174 BLHS năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định khung hình phạt tăng nặng thứ ba từ 12 đến 20 năm tù hoặc tù chung thân khi thỏa mãn một trong các điều kiện:

– Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

– Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Khoản 5 BLHS năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định hình phạt bổ sung như sau: 

– Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Xem thêm: Luật sư bào chữa trong vụ án hình sự

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments