Thứ Năm, Tháng Mười Hai 1, 2022
Google search engine
Hometội phạmĐịnh nghĩa về đồng phạm và những quy định mới về đồng...

Định nghĩa về đồng phạm và những quy định mới về đồng phạm

Tội phạm có thể chỉ là do một người thực hiện hoặc cũng có thể do nhiều người cùng gây ra. Trong các trường hợp có nhiều người cố ý và cùng thực hiện thì tội phạm sẽ được gọi là đồng phạm.

đồng phạm
đồng phạm

Đồng phạm là gì?

Đồng phạm là người cùng tham gia vào việc thực hiện tội phạm như là: cùng thực hiện tội phạm có thể là trực tiếp thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm hay có thể là người thực hành, thực hiện hành vi chủ mưu cùng chỉ huy, cầm đầu việc thực hiện tội phạm cùng với người thực hiện hành vi kích động cùng dụ dỗ cùng thúc đẩy những người khác thực hiện tội phạm hay là người xúi giục cùng tạo các điều kiện về tinh thần, vật chất cho những người khác thực hiện tội phạm. Khi thực hiện các hành vi gây nguy hiểm cho xã hội thì mỗi người đồng phạm họ không chỉ cố ý với các hành vi phạm tội của mình mà họ còn biết cùng mong muốn được cùng tham gia của người đồng phạm khác. Cùng với cố ý trong đồng phạm đã được thể hiện trên hai phương diện về lý trí cùng ý chí.
Về lý trí thì mỗi người đồng phạm, họ đều có các nhận thức được về tính chất nguy hiểm của mình đối với hành vi của mình cùng nhận thức được các tính chất nguy hiểm của người đồng phạm khác, ho có thể thấy trước được các việc gây ra hậu quả chung của các hành vi phạm tội đó.
Về ý chí thì người đồng phạm khi mà thực hiện các hành vi đều mong muốn cùng thực hiện tội phạm cùng với mong muốn hậu quả chung của tội phạm xảy ra.

Dấu hiệu của đồng phạm

Dấu hiệu thứ nhất: Đồng phạm có ít nhất hai người cùng với hai người này thì cần phải có đủ các điều kiện của chủ thể của tội phạm. Đó là một trong các điều kiện năng lực trách nhiệm hình sự cùng với có năng lực nhận thức, năng lực điều khiển hành vi cùng đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Dấu hiệu của các chủ thể đặc biệt là không đòi hỏi phải có ở tất cả người đồng phạm mà chỉ cần đòi hỏi ở một loại người đồng phạm đó là người giúp sức.
Dấu hiệu thứ hai: Họ cùng thực hiện tội phạm có nghĩa là người đồng phạm cần phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi dưới đây:
Hành vi thực hiện tội phạm đó thực hiện hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Người có hành vi này thì được gọi là người thực hành.
Hành vi tổ chức thực hiện các tội phạm, tổ chức thực hiện các hành vi đã được mô tả trong cấu thành tội phạm. Người có các hành vi này sẽ được gọi là người tổ chức.
Hành vi người xúi giục người khác đế thực hiện tội phạm cùng với xúi giục người khác thực hiện các hành vi được mô tả trong cơ cấu thành tội phạm. Người có hành vi này thì được gọi là người xúi giục.
Các hành vi giúp sức cho người khác thực hiện tội phạm cùng giúp sức người khác thực hiện các hành vi được mô tả trong cấu thành tội phạm. Thì người có hành vi này thì được gọi là người giúp sức.
Trong vụ đồng phạm thì có thể có đủ bốn loại hành vi tham gia nhưng tuy nhiên là không đòi hỏi nhất thiết cần phải như vậy cùng với có thể chỉ có một trong các loại hành vi tham gia. Người đồng phạm thì có thể tham gia với một trong các loại hành vi nhưng họ cũng có thể tham gia với nhiều các loại hành vi khác nhau. Họ có thể sẽ tham gia từ đầu hay họ cũng có thể tham gia khi mà tội phạm đã xảy ra nhưng chưa hề kết thúc.
Bằng các hành vi cụ thể đã trình bày trên thì tất cả những người đồng phạm thì đều có các hành vi gây các nguy hiểm cho xã hội. Những hành vi đó đã được thực hiện trong các mối liên kết thống nhất với nhau. Hành vi của người là một phần của các hành vi phạm tội chung. Có thể là tất cả người đồng phạm đều sẽ trực tiếp thực hiện tội phạm cùng với tổng hợp các hành vi của họ sẽ tạo thành các hành vi phạm tội cùng với có đủ các dấu hiệu của cấu thành tội phạm nhất định nhưng mà cũng có thể chỉ có một cùng với một số những người trực tiếp thực hiện tội phạm còn người khác thì họ chỉ có hành vi góp phàn vào các việc như thực hiện tội phạm. Hậu quả cùng với thiệt hại của tội phạm đó là các kết quả chung do các hoạt động của tất cả ai đã tham gia vào việc thực hiện tội phạm. Giữa các hành vi của người cùng hậu quả thiệt hại của các tội phạm thì đều có quan hệ nhân quả. Các hành vi của người thực hành là các nguyên nhân trực tiếp cùng làm phát sinh các hậu quả thiệt hại còn các hành vi của người khác cần phải thông qua các hành vi của người thực hành để gây ra các hậu quả đó.

đồng phạm
đồng phạm

Mức phạt tù đối với đồng phạm

Mức hình phạt trong các phạm vi khung hình phạt dành cho những đồng phạm được quyết định cũng không phải đều như nhau mà tuỳ thuộc vào các vai trò của họ trong đồng phạm, tác dụng của các hành vi của họ đến với các hoạt động chung trong việc gây ra tội phạm cùng với nhân thân của họ. Thông thường thì người tổ chức sẽ có các tính nguy hiểm cao nhất cho xã hội. Vậy nên các hình phạt của họ thì cũng cao hơn là những người đồng phạm khác. Để có thể vận dụng đúng đắn các nội dung này thì cần đòi hỏi người áp dụng pháp luật cần phải xem xét cùng với đánh giá các trường hợp phạm tội cụ thể chứ họ không thể cứng nhắc cùng dẫn đến các khuôn mẫu cho rằng người tổ chức sẽ nguy hiểm hơn so với người thực hành hay là người thực hành nguy hiểm hơn là người xúi giục. Tuy nhiên thì tất cả các tình tiết định khung tăng nặng hay là giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng cùng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay các tình tiết miễn trách nhiệm hình sự của riêng một người thì chỉ được áp dụng riêng đối với người đó. Các tình tiết này thì gồm hai loại. Một là các tình tiết thuộc về nhân thân như là tái phạm, tái phạm nguy hiểm cùng phạm tội trong thời gian chấp hành hình phạt cùng là người chưa thành niên phạm tội…. Còn hai là các tình tiết xảy ra không thuộc các phạm vi ý thức của đồng phạm.

Các quy định mới về đồng phạm

So với các quy định của BLHS năm 1999 thì về cơ bản là BLHS năm 2015 đã có sửa đổi và bổ sung năm 2017 cùng giữ nguyên với các nội dung quy định về đồng phạm của BLHS năm 1999 thì có một số điểm mới như sau:
Về mặt kỹ thuật lập pháp thì điều 17 BLHS của năm 2015 có sửa đổi bổ sung với năm 2017 và được quy định thành 4 khoản so với BLHS năm 1999 thì chỉ gồm 3 khoản, cụ thể đó là:
Khoản 2 của điều 20 BLHS năm 1999 đẫ quy định là người tổ chức cùng với người thực hành cùng người xúi giục và người giúp sức thì đều là những người đồng phạm đã được sửa đổi thành khoản 3 của điều 17 BLHS năm 2015 cùng với sự thay đổi về kết cấucuxng như quy định người đồng phạm bao gồm người tổ chức, người thực hành cùng người xúi giục vàngười giúp sức.
Khoản 3 của điều 20 BLHS năm 1999 đã quy định về phạm tội có tổ chức được chuyển thành khoản 2 trong điều 17 BLHS của năm 2015 và sửa đổi bổ sung năm 2017. Như vậy là điều 17 BLHS của năm 2015 đã sửa đổi bổ sung năm 2017 cùng với thay đổi trật tự của các khoản điều 20 của BLHS của năm 1999 là phù hợp cùng với giúp đảm bảo được tính logic cùng với về mặt nội dung cùng hình thức của các quy định về đồng phạm. Theo các quy định của điều 20 BLHS năm 1999 thì phạm tội có tổ chức sẽ được đặt ở các vị trí sau nội dung có quy định về các loại người đồng phạm.
Về mặt nội dung thì điều 17 BLHS của năm 2015, có các sửa đổi bổ sung năm 2017 và cũng đã bổ sung thêm các nội dung về người đồng phạm sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự về các hành vi vượt quá của của người thực hành cùng vào khoản 4 của điều 17 BLHS. Như vậy là các nội dung tại điều 17 BLHS của năm 2015 đã có sửa đổi cùng với bổ sung năm của 2017 về các quy định đồng phạm . Tuy nhiên chỉ có một điểm mới so với điều 20 BLHS của năm 1999 đó là ghi nhận các hành vi vượt quá người thực hành.

Hy vọng bài viết về định nghĩa về đồng phạm và những quy định mới về đồng phạm sẽ mang lại cho bạn thật nhiều các thông tin cùng với các kiến thức về luật nhé!

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments