Thứ Bảy, Tháng Hai 24, 2024
Google search engine
Hometố tụng hình sựĐiều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại...

Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội

Pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định lần đầu tiên từ Bộ luật Hình sự năm 2015. Bài viết làm rõ điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội.

1 – Khái niệm trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội

Vấn đề xử lý hình sự pháp nhân đã được hệ thống pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới quy định và áp dụng. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, thực trạng pháp nhân thương mại gây ô nhiễm môi trường, trốn thuế, các loại tội phạm có tổ chức, rửa tiền, hoạt động theo băng nhóm có xu hướng gia tăng và nghiêm trọng hơn, được thực hiện bởi các doanh nghiệp, tổ chức có tư cách pháp nhân. Trong khi đó, các biện pháp hành chính kém hiệu quả, không đủ sức răn đe đối với các hành vi vi phạm pháp luật do pháp nhân thực hiện. Hơn nữa, ở nước ta trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay cho thấy sự cần thiết phải tiếp tục nội luật hóa và bảo đảm trên thực tế các công ước quốc tế đã được kí kết hoặc công nhận.

Một số công ước quốc tế rất quan trọng mà nước ta là thành viên, như Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, Công ước về phòng chống tham nhũng của Liên hợp quốc năm 2003… Thực hiện các văn kiện quốc tế, để phòng, chống tội phạm, thực hiện chính sách hình sự và bảo vệ quyền con người ở nước ta, Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân là phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay.

Trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại phạm tội có thể hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi pháp nhân phải gánh chịu bằng việc bị áp dụng hình phạt hoặc một trong các biện pháp hình sự do pháp luật quy định.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

2 – Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội

[a] Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại

Người có thẩm quyền nhân danh pháp nhân dưới hai hình thức là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền, hoặc cá nhân là thành viên của pháp nhân thương mại được giao thực hiện công việc do pháp nhân giao, đó có thể là Giám đốc, Chủ tịch Hội đồng quản trị… Để biết được người đại diện theo pháp luật và người đại diện theo ủy quyền thì phải dựa vào các hình thức, như căn cứ vào quy định của văn bản pháp luật; dựa vào các hình thức khác như việc pháp nhân sử dụng con dấu, việc sử dụng nguồn vốn, văn bản và hình thức ủy quyền với một thời gian và phạm vi nội dung ủy quyền nhất định nào đó, hoặc thông qua Điều lệ, biên bản họp của pháp nhân… Các hình thức này có thể chứng minh cho hành vi nhân danh pháp nhân trong giao dịch dân sự, giao dịch thương mại và các hành vi kinh doanh của pháp nhân.

[b] Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại

Đó là mục đích phạm tội của pháp nhân, cụ thể là những lợi ích vật chất mà pháp nhân được hưởng một cách trái pháp luật.

Ví dụ: không phải nộp thuế (hành vi trốn thuế), không phải chi một khoản tiền để đóng bảo hiểm bắt buộc cho người lao động (hành vi trốn đóng bảo hiểm), thu được một khoản tiền do hoàn thuế (hành vi lừa đảo chiếm đoạt thuế giá trị gia tăng).

Tuy nhiên các hành vi phạm tội của pháp nhân phải là vì mang lại lợi ích chung của pháp nhân, chứ không phải là lợi ích của cá nhân nào đó của pháp nhân. Bộ luật Hình sự không quy định rõ lợi ích của pháp nhân là lợi ích cụ thể nào. Đó có thể là lợi ích vật chất hoặc lợi ích về tinh thần.

Ví dụ: bằng phương pháp, thủ đoạn trong hành vi quảng cáo gian dối để tăng uy tín thương hiệu của pháp nhân.

[c] Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

Để chứng minh có hay không hành vi phạm tội đã diễn ra có sự chỉ đạo của người đứng đầu pháp nhân hoặc là ban lãnh đạo của pháp nhân (người đại diện) thì cần phải chứng minh yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của tội phạm. Cần phải xác định:

(i) Có hay không chủ trương, kế hoạch, sự điều động và phương pháp thực hiện hành vi phạm tội của người đứng đầu pháp nhân thương mại (thông qua hành vi chỉ đạo, điều hành của người đại diện của pháp nhân);

(ii) Có hay không hành vi chấp thuận của pháp nhân cho phép người đại diện thực hiện hành vi trái pháp luật mà pháp nhân đã nhận thức được.

[d] Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự

Bộ luật Hình sự năm 2015 áp dụng thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chung cho cả cá nhân và pháp nhân phạm tội. Theo đó, khoản 2 Điều 27 quy định thời hiệu 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng, 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng, 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng, 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

3 – Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Điều kiện chịu trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại phạm tội có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments