Đặc điểm của quyền tác giả

0
57

Quyền tác giả ngày càng được đề cao hơn trong bối cảnh công nghệ thông tin và công nghệ giải trí phát triển như hiện nay. Để không làm mơ hồ khi xác định về quyền tác giả, đã có rất nhiều đặc điểm được đặt ra dưới nhiều cách thức tiếp cận, tuy nhiên dưới góc độ pháp lý thì đặc điểm của quyền tác giả thường được xem xét theo một số đặc điểm nhất định.

I- Quyền tác giả

Quyền tác giả là quan hệ xã hội giữa tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả với các chủ thể khác trong xã hội thông qua tác phẩm được tác động của các quy phạm pháp luật về quyền tác giả. Mối quan hệ này thể hiện chỉ có tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả

Xem thêmDịch vụ pháp lý đăng ký bản quyền tác giả của Công ty Luật TNHH Everest

II – Đặc điểm quyền tác giả.

1- Đối tượng của quyền tác giả là sản phẩm của hoạt động sáng tạo tinh thần.

Xét về đối tượng, có thể nói đối tượng của quyền Sở hữu trí tuệ đa phần là sản phẩm của hoạt động sáng tạo.

Tuy nhiên, đối tượng của quyền tác giả và quyền Sở hữu công nghiệp có sự khác biệt nhất định.

– Thứ nhất, về đối tượng quyền Sở hữu công nghiệp.

Mục đích hướng tới ứng dụng công nghiệp thương mại.

Ví dụ:

Nhóm đối tượng Sở hữu trí tuệ là các giải pháp kĩ thuật, sự sáng tạo sẽ thiên về tính kĩ thuật.

Nhóm chỉ dẫn thương mại như nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, tên thương mại là kết quả của quá trình đầu tư và không cần tính sáng tạo.

– Thứ hai, về đối tượng quyền tác giả.

Tác phẩm – đối tượng của quyền tác giả phản ánh tư tưởng, tình cảm, phong cách, nhân sinh quan… của người sáng tác. Vì vậy, nó luôn chứa đựng nội dung tinh thần nhất định.

Đồng thời, lĩnh vực sáng tạo của quyền tác giả phần lớn là về các chủ đề văn hóa, nghệ thuật để thỏa mãn nhu cầu tinh thần và nâng cao hiểu biết về các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học.

Tuy rằng các tác giả có thể trùng hợp về ý tưởng dẫn đến các tác phẩm có cùng một chủ đề xong màu sắc, phong cách của mỗi tác giả sẽ khiến cho tác phẩm mang đậm tinh thần của tác giả.

Vì vậy, tổng kết lại thì tác phẩm là sáng tạo tinh thần thể hiện dấu ấn sáng tạo riêng của tác giả.

2 – Quyền tác giả được xác lập tự động.

Quyền tác giả phát sinh một cách mặc nhiên, không phụ thuộc vào bất kì thể thức, thủ tục nào.

Pháp luật Quyền tác giả trên thế giới đều quy định về việc bảo hộ tự động đối với Quyền tác giả nhưng việc bảo hộ chỉ phát sinh kể từ thời điểm tác phẩm đã được thế hiện ra bên ngoài bằng hình thức nhất định mà người khác có thể nhận biết và tiếp cận được tác phẩm.

Và ở Việt Nam cũng được quy định tương tự khi tác phẩm được định hình, thể hiện dưới dạng thức nhất định để người khác khi tiếp cận đến tác phẩm sẽ nhận định được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thì tác phẩm đó sẽ có các quyền tác giả và các quyền này được pháp luật ghi nhận, bảo hộ mà không cần thông qua việc đăng kí quyền tác giả.

LƯU Ý:

– Pháp luật Quyền tác giả quy định về việc đăng kí quyền tác giả nhưng việc đăng kí quyền tác giả chỉ là thủ tục để cơ quan nhà nước có thẩm quyền ghi nhận về các thông tin liên quan chứ không phải căn cứ xác lập quyền tác giả.

– Giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả do cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác hoàn toàn với ” văn bằng bảo hộ”. Trong khi, giấy chứng nhận đăng kí quyền tác giả chỉ có giá trị chứng cứ khi cần chứng minh quyền tác giả, còn văn bằng bảo hộ đối tượng sở hữu công nghiệp có giá trị ghi nhận phạm vi, thời hạn bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.

– Việc bảo hộ không được đặt ra khi tác phẩm chỉ nằm trong ý tưởng của nhà sáng tạo.

3 – Quyền tác giả chỉ bảo hộ về hình thức thể hiện tác phẩm, không bảo hộ ý tưởng sáng tạo.

Như đã đề cập tại mục lưu ý của phần 2 thì các sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học chỉ có ý nghĩa khi công chúng có thể tiệm cận đến nó. Vì vậy, pháp luật chỉ bảo hộ quyền tác giả khi tác phẩm thể hiện thông qua hình thức nhất định để có thể nhận biết, xác định được tác phẩm.

Hoạt động sáng tạo luôn cần đến nguồn chất liệu như: : các ý tưởng, thông tin, các sản phẩm văn hoá của nhân loại, các chất liệu khác từ tự nhiên hay cuộc sống xã hội. Nguồn chất liệu này, trong đó có các ý tưởng, chủ đề có thể coi là kho tài sản chung của xã hội và mọi người đều có thể khai thác tự do, vì vậy nó không thuộc phạm vi bảo hộ quyền tác giả.

Từ những chất liệu chung đó, tác giả bổ sung thêm những chất liệu cá nhân như tư tưởng, tình cảm, tinh thần để tạo nên sản phẩm. Do đó, ý tưởng, chủ đề sáng tác có thế trùng nhau nhưng hình thức thể hiện tác phẩm của mỗi tác giả thì không thể hoàn toàn giống nhau vì quá trình sáng tạo tuỳ thuộc vào việc tác giả sử dụng chất liệu, công cụ như thế nào, tuỳ thuộc vào khả năng, sở trường, sự đầu tư trí tuệ, công sức… của mỗi tác giả.

Vì vậy, pháp luật chỉ bảo hộ quyền tác giả đối với hình thức thể hiện tác phẩm mà hoàn toàn không bảo hộ chủ đề, tư tưởng trong tác phẩm.

Tuy nhiên, đối với các ý tưởng liên quan đến các giải pháp kĩ thuật, chủ thể sáng tạo có thể được bảo hộ độc quyền khi thể hiện giải pháp kĩ thuật đó dưới dạng bản mô tả sáng chế hay kiểu dáng công nghiệp và nộp đơn đăng kí bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Cơ chế bảo hộ quyền SHCN trao cho chủ sở hữu độc quyền khai thác ý tưởng sáng tạo kĩ thuật, khác với cơ chế bảo hộ QTG chỉ trao cho tác giả các quyền nhân thân, tài sản liên quan tới việc sử dụng hình thức của tác phẩm.

Ví dụ: Giải pháp kĩ thuật được bảo hộ quyền tác giả khi được thể hiện dưới dạng bản báo cáo khoa học và tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả được hưởng quyền liên quan đến việc sử dụng hình thức thể hiện của bản báo cáo khoa học mà không bảo hộ ý tường của giải pháp khoa học đó.

Xem thêmDịch vụ trợ lý pháp lý từ xa của Công ty Luật TNHH Everest

III – Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Đặc điểm của quyền tác giả được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Đặc điểm của quyền tác giả có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here