Thứ Bảy, Tháng Bảy 2, 2022
Google search engine
HomeTội xâm phạm tính mạng, nhân phẩm, danh dựTội bắt giữ người trái pháp luật bị xử lý thế nào...

Tội bắt giữ người trái pháp luật bị xử lý thế nào theo quy định pháp luật

Liên quan đến các tội danh về bắt cóc hay bắt giữ người trái pháp luật thì luật pháp nước ta đã quy định rõ về các trường hợp cần xem xét và xử phạt với mức phạt tương ứng. Khi bạn bạn gặp phải trường hợp bị bắt cóc hay bị bắt giữ không lí do thì bạn có quyền tố cáo với các cơ quan chức năng có thẩm quyền đề để giải quyết. Cùng với luật hình sự tham khảo bài viết dưới đây về tội bắt giữ người trái pháp luật này.

tội bắt giữ người trái pháp luật
tội bắt giữ người trái pháp luật

Hiểu đúng khái niệm về tội bắt giữ người trái pháp luật

Hành vi bắt người trái pháp luật trong nhiều trường hợp được hiểu là hành vi của người không có bất kì thẩm quyền nào, thực hiện việc khống chế người khác mà không theo đúng các quy định ban hành của pháp luật để tạm giữ hoặc tạm giam họ một cách trái phép;

Hành vi giữ người trái pháp luật được xem Là hành vi của người không có bất kì thẩm quyền nào và thực hiện không theo đúng các quy định được ban hành của pháp luật để không cho phép người khác di chuyển vượt ra ngoài khuôn khổ sự kiểm soát của mình, trong một khoảng thời gian nào đó nhất định;

Hành vi giam người trái pháp luật được xem Là hành vi của người không có bất cứ thẩm quyền nào để thực hiện việc cách ly người khác một cách trái pháp luật ở một địa điểm cụ thể và trong một khoảng thời gian nào đó nhất định.

Các hành vi được nêu ở trên đều là hành vi xâm phạm quyền tự do về thân thể của người khác nhưng khác nhau ở chỗ là thay đổi về các hình thức thực hiện. Chủ thể của tội phạm ở trong hoàn cảnh này có thể thực hiện một, hai hoặc có thể đồng thời cả ba hành vi nêu trên.

Yếu tố cấu thành tội bắt giữ người trái pháp luật

Tội bắt giữ người trái pháp luật hoặc thực hiện việc giam người một cách trái pháp luật quy định cụ thể tại Điều 157 Bộ luật hình sự nằm 2015 và sửa đổi bổ sung 2017.

Xét về mặt khách quan:

– Đối với việc bắt người trái pháp luật: Được biểu hiện rõ ở hành vi là khống chế người khác để tạm giữ hoặc thực hiện việc tạm giam họ;

– Đối với giữ (tạm giữ) người trái với quy định của pháp luật: Được thể hiện rõ ở hành vi cụ thể là không cho người bị bắt đi đâu vượt ra khỏi kiểm soát của người phạm tội trong một khoảng thời gian ngắn (thường chỉ là dưới 24 giờ mà thôi).

– Đối với hành vi giam (tạm giam) người trái pháp luật: Được thể hiện rõ thông qua hành vi nhốt người bị bắt được ở một nơi, trong một khoảng thời gian cụ thể nhất định (như nhốt ở trong nhà tội phạm…). Những trường hợp vào nhà bắt giữ người trái phép còn được quy thêm tội xâm phạm chỗ ở.

– Dấu hiệu xem xét khác như: Hành vi bắt giữ, hoặc giam giữ người nêu trên phải là hành vi trái với pháp luật, đây là các dấu hiệu cấu thành cơ bản về tội bắt giữ người trái pháp luật.

Về mặt Khách thể

Hành vi phạm tội được nêu ra ở trên xâm phạm đến các quyền về tự do thân thể của các công dân được pháp luật bảo vệ.

xét về mặt chủ quan

Người phạm tội tiến hành thực hiện tội phạm này với các lỗi được cho là cố ý.

Xét về mặt Chủ thể

Chủ thể của tội phạm này thường được xem là bất kỳ người nào có đầy đủ khả năng có năng lực về trách nhiệm hình sự.

Quy định pháp luật về tội bắt giữ người trái pháp luật

“Điều 157. Về Tội bắt, giữ hoặc thực hiện hành vi giam người trái pháp luật

1. Người nào tiến hành việc bắt, giữ hoặc thực hiện việc giam người trái pháp luật, nếu không thuộc các trường hợp quy định cụ thể tại Điều 153 và Điều 377 nằm trong Bộ luật này, thì sẽ bị phạt với tính chất là cải tạo không giam giữ trong thời gian lên đến 03 năm hoặc phải nhận mức phạt tù từ 06 tháng cho đến 03 năm.

2. Phạm tội nằm trong các trường hợp được nêu sau đây, thì sẽ bị phạt tù có thời hạn từ 02 năm đến 07 năm cụ thể:

a) Hành vi Có tổ chức;

b) Lợi dụng đến chức vụ và quyền hạn để thực hiện hành vi;

c) Hành vi gây ra đối với người đang thi hành công vụ;

d) Phạm tội có tần suất từ 02 lần trở lên;

đ) Phạm tội gây ra đối với trường hợp 02 người trở lên;

e) Gây ra hành vi đối với người dưới có độ tuổi dưới 18, trường hợp phụ nữ mà biết là có thai, hay người già yếu, bệnh tật hoặc người không có khả năng về mặt tự vệ;

g) Hành vi làm cho chủ thể bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình của nạn nhân rơi vào hoàn cảnh kinh tế có tính chất đặc biệt khó khăn;

h) Gây ra các thương tích, gây tổn hại đến với sức khỏe hoặc gây ra các rối loạn về vấn đề tâm thần và các hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ nay làm tổn thương cơ thể lên đến mức từ 31% đến 60%.

3. Phạm tội thuộc vào một trong các trường hợp được nêu lên sau đây, thì sẽ bị phạt tù có mức thời gian từ 05 năm cho đến 12 năm:

a) Làm chủ thể bị bắt, giữ, giam bị chết hoặc phải tự sát;

b) Thực hiện hành vi tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc thực hiện hành vi hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;

c) Gây ra các thương tích, gây nên những tổn hại cho sức khỏe hoặc gây ra các rối loạn về tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ tổn thương cho cơ thể của họ đạt 61% trở lên.

4. Người thực hiện phạm tội còn có thể phạt bị cấm đảm nhiệm các chức vụ nhất định trong khoảng thời gian cụ thể từ 01 năm cho đến 05 năm.”

Hình phạt đối với tội bắt giữ người trái pháp luật

tội bắt giữ người trái pháp luật
tội bắt giữ người trái pháp luật

Người nào thực hiện hành vi bắt, giữ hoặc giam người có tính chất trái pháp luật, nếu không thuộc các trường hợp cụ thể quy định tại Điều 153 và Điều 377 nằm trong bộ luật này thì chịu hình phạt là bị đưa đi cải tạo không giam giữ trong thời gian lên đến 03 năm hoặc phạt tù có mức độ từ 06 tháng cho đến 03 năm. Nhiều trường hợp mức phạt này được áp dụng cho trường hợp tội bắt cóc.

Khung hình phạt tại Khoản 2 quy định cụ thể rõ ràng như sau:

Phạm tội thuộc một trong số các trường hợp được nêu ra sau đây, thì sẽ chịu mức án phạt tù có thời hạn từ 02 năm đến 07 năm:

+ Hành vi này là hành vi có tính tổ chức;

+ Lợi dụng mức độ chức vụ, quyền hạn để thực hiện;

+ Gây ra Đối với người đang thi hành công vụ;

+ Phạm tội có tần xuất tái diễn 02 lần trở lên;

+ Gây ra đối với 02 người trở lên;

+ Hành vi gây ra đối với người có độ tuổi dưới 18 hay phụ nữ mà biết rằng người này có thai, người già yếu, bệnh tật hoặc người không có khả năng nào để tự vệ;

+ Hậu quả Làm cho người bị bắt, giữ, giam hoặc gia đình của nạn nhân lâm vào hoàn cảnh kinh tế có tính chất đặc biệt khó khăn;

+ Gây ra các thương tích, gây những tổn hại cho sức khỏe hoặc gây nên các vấn đề về rối loạn tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ phần trăm tổn thương liên quan đến cơ thể đạt từ 31% cho đến 60%.

Khung hình phạt tại Khoản 3 được quy định cụ thể như sau:

Phạm tội thuộc một trong số các trường hợp được quy định sau đây, thì sẽ chịu các mức phạt tù từ 05 năm cho đến 12 năm:

+ Hành vi nàu Làm cho người bị bắt, giữ, giam bị chết hoặc dẫn đến việc tự sát;

+ Có hành vi Tra tấn, đối xử hoặc trừng

+ Có hành vi Tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc thực hiện hành vi hạ nhục nhân phẩm của người bị bắt, giữ, giam;

+ Gây ra các thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân hoặc gây nên những rối loạn về tâm thần và hành vi của người bị bắt, giữ, giam mà tỷ lệ mức độ tổn thương cơ thể lên tới 61% trở lên.

Hình phạt bổ sung được quy định:

Người thực hiện hành vi phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm các chức vụ nhất định có thời gian từ 01 năm đến 05 năm.

Bình luận điểm mới và bất cập về quy định pháp luật về tội bắt giữ người trái pháp luật

Thứ nhất, Thuộc vào khoản 4 Điều 110 BLTTHS quy định cụ thể về “Trong thời hạn kể từ 12 khi thực hiện việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp hoặc có thể là nhận người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp thì Cơ quan điều tra, hay cơ quan cụ thể được giao nhiệm vụ tiến hành một số các hoạt động có liên quan đến việc điều tra phải thực hiện việc lấy lời khai ngay và những người được quy định cụ thể tại điểm a và điểm b nằm trong khoản 2 Điều này phải ra quyết định là tạm giữ, và ra lệnh bắt người bị giữ hoặc trả lại sự tự do ngay cho người đó. Lệnh bắt người bị giữ có tính chất khẩn cấp phải gửi ngay cho cơ quan là Viện kiểm sát cùng cấp hoặc có thể là Viện kiểm sát có thẩm quyền kèm theo các tài liệu cụ thể liên quan mật thiết đến việc giữ người để xét phê chuẩn…”.

Thứ hai, BLTTHS quy định cụ thể về các biện pháp bắt người bị giữ trong các trường hợp khẩn cấp dường như là điều không cần thiết cho lắm. Bởi vì, mục đích của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn là để kịp thời có thể ngăn chặn tội phạm hoặc khi có đầy đủ các căn cứ chứng tỏ rằng người bị buộc tội sẽ gây ra những khó khăn cho quá trình điều tra, việc truy tố, hay xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để bảo đảm việc thi hành án cho chính xác.

Thứ ba, chưa có các quy định cụ thể và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ đối với trường hợp của người bị bắt

Thứ tư, Điều 110 của BLTTHS với tiêu đề cụ thể là Giữ người trong các trường hợp có tính chất khẩn cấp, nhưng nội dung viết cụ thể trong Điều luật này lại có những điều chỉnh đối với cả biện pháp ngăn chặn việc giữ người và bắt người bị giữ trong các trường hợp khẩn cấp.

Thứ năm, Khoản 4 thuộc Điều 110 và khoản 1 thuộc Điều 114 của BLTTHS đã quy định một cách thiếu tính thống nhất với nhau.

Trên đây là đầy đủ các thông tin mà bạn có thể tham khảo để hiểu hơn về tội bắt giữ người trái pháp luật. Hãy nắm rõ luật để không phải trở thành nạn nhân của những vụ bắt giữ tùy tiện và không lí do. Sử dụng luật để đấu tranh chống lại sai liên quan đến vấn đề này.

RELATED ARTICLES

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here

- Advertisment -
Google search engine

Most Popular

Recent Comments