Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 125 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

Người phạm tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là người giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

Căn cứ pháp lý của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

Tội phá hoại cơ sở vật chất, kỹ thuật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định tại Điều 125 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 (gọi tắt là "BLHS"), như sau:

“1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội đối với 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.”

Bình luận tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng là trường hợp phạm tội được tách từ tội giết người. Dấu hiệu pháp lý của tội giết người-trong trạng thái tinh thân bị kích động mạnh gồm:

(i) Mặt khách quan: hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh phải thỏa mãn các điều kiện sau đây:

Thứ nhất, người phạm tội khi thực hiện hành vi giết người phải ở trong trạng thái khả năng không kiểm soát, kiềm chế hành vi nhưng chưa đến mức mất toàn bộ khả năng nhận thức điều khiển hành vi. Để đánh giá kích động mạnh hay không phải đánh giá toàn bộ các tình tiêt vụ án như nhân thân người phạm tội, mối quan hệ giữa người phạm tội và nạn nhân và các điều kiện, hoàn cảnh khách quan bên ngoài tác động đến tinh thần của nạn nhân. Tiêu chí khái quát để đánh giá là bất kỳ ai bình thường về tinh thần nếu đặt trong đó đều có thể bị kích động mạnh.
Ví dụ: Ông H là thương binh nặng có nhiều mảnh đạn trong đầu. Khi trái gió, trở trời ông hay bị đau đầu làm cho tính khí lúc đó nóng nảy. Ở phòng bên cạnh phòng ông H có thanh niên Nguyễn Văn N có sở thích chơi loa đài và hay mở loa đài suốt ngày. Nhiều lần đau đầu ông H có sang nhắc nhở N mở đài bé lại nhưng N không nghe. Một ngày trở trời, ông H bị đau đầu rất nặng, N lại mở đài liên tục cả ngày. Ông H sang nhắc nhở, N đã có hành vi xúc phạm, chửi bới ông H và dùng tay đẩy ông ra khỏi nhà. Ông H vớ lấy con dao ở bàn nhà N đâm N chết tại chỗ. Đánh giá toàn diện các tình tiết của vụ án trên rõ ràng ông H giết người trong trạng thái tinh thân bị kích động mạnh.

Thứ hai, nạn nhân phải có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng hoặc hành vi trái pháp luật hay trái đạo đức tuy nhỏ nhặt xâm phạm đến người phạm tội hay người thân thích của người phạm tội nhưng diễn ra liên tục, thường xuyên gây ức chế tâm lý cho người phạm tội.

Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa tình trạng kích động mạnh về tinh thần với hành vi trái pháp luật của nạn nhân. Nói cách khác nếu người phạm tội bị kích động mạnh nhưng không do hành vi vi trái pháp luật của nạn nhân thì không thỏa mãn cấu thành tội này. Ví dụ: A đánh B, B đuổi theo A không được quay về nhà A thấy con gái của A đang nấu cơm liền đâm chết con gái A thì không thuộc trường hợp này. Trường hợp này B phạm tội giết người.

Lưu ý khi định danh tội phạm tại Điều 125 và Điều 123 có trường hợp hành vi vừa thỏa mãn dấu hiệu định tội của Tội phạm quy định tại Điều 125 vừa thỏa mãn dấu hiệu định khung của Điều 123 thì ưu tiên áp dụng dấu hiệu định tội và sẽ định tội danh theo Điều 125. Ví dụ: A là phụ nữ có thai, do A chửi mắng, xúc phạm hành hung nghiêm trọng B nên B giết A trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Trường hợp này định tội danh theo Điều 125 chứ không theo Điều 123 với tình tiết tăng nặng giết phụ nữ có thai.

Hậu quả bẳt buộc là nạn nhân chết. Tội này không có giai đoạn chưa đạt.

(ii) Dấu hiệu khách thể

Khách thể của tội giết người là quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng của con người. Con người sống trong xã hội có quyền tự nhiên là quyền sống đòi hỏi các chủ thể khác phải tôn trọng.

Đối tượng của tội giết người là thân thể con người đang sống mà hành vi phạm tội tác động vào để xâm phạm đến quyền sổng của họ. Thời điểm được coi là sống của một người tính từ khi người đó được sinh ra, độc lập với cơ thể mẹ và chấm dứt khi có cái chết về mặt sinh học (lưu ý: Chết khi bị tuyên bố chết theo quy định của Luật dân sự không có nghĩa là họ chết sinh học theo dấu hiệu của tội giết người).

Như vậy thai nhi còn trong cơ thể người mẹ và tử thi đã chết không phải là đối tượng của tội giết người cũng như các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm nói chung. Tác động vào đối tượng thai nhi như phá thai, hay tử thi như đâm chém tử thi không phải là giết người trừ trường hợp người phạm tội sai lầm về đối tượng thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự (tưởng nạn nhân chưa chết nên bắn nhưng thực ra người đó đã chết)

(iii) Mặt chủ quan

Người phạm tội đã thực hiện tội phạm này với lỗi cố ý (được thể hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp).

Giết người với lỗi cố ý trực tiếp là trường hợp một người nhận thức hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức hậu quả chết người sẽ xảy ra và mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra. Ví dụ: A dùng dao nhằm ngực bên trái của B đâm hậu quả làm B chết. A đã nhận thức hành vi dùng dao đâm vào ngực trái B là nguy hiểm đến tính mạng của B, nhận thức được hậu quả B chết sẽ xảy ra và hành vi đó thể hiện ý thức mong muốn cho B chết.

Giết người với lồi cố ý gián tiếp là trường hợp một người nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả chết người có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra. Ví dụ: trong khi xảy ra xô xát tại quán bia, A dùng dao đâm bừa về phía B và đồng bọn, nhát dao trúng tim B chết. Đây là trường hợp bỏ mặc cho hậu quả xảy ra khác với trường hợp A nhằm ngực B để đâm (lỗi cố ý trực tiếp).

(iv) Chủ thể

Chủ thể này bất kỳ là người nào từ 14 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự. Chủ thể của tội giết người là chủ thể thường, nghĩa là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định đều có khả năng trở thành chủ thể của tội giết người. Theo quy định của Bộ luật hình sự, thì người từ đủ 14 tuổi trở lên có năng lực trách nhiệm hình sự về tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng. Từ 16 tuổi trở lên: Chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Về hình phạt của tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

- Cấu thành tội phạm cơ bản là phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm.
- Cấu thành tội phạm tăng nặng là phạt tù từ 3 năm đến 7 năm đối với trường hợp giêt hai người trở lên trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.


Luật sư Nguyễn Duy Hội - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư Nguyễn Duy Hội - Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198


Vì sao các tổ chức, cá nhân nên sử dụng dịch vụ pháp lý trong trường hợp có liên quan tới tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh:

Oan, sai, tình trạng bức cung, nhục hình trong vụ án hình sự tại Việt Nam hiện nay không còn hiếm. Tình trạng này không chỉ trực tiếp xâm phạm quyền tự do, danh dự, nhân phẩm... mà trong nhiều trường hợp, còn tước đoạt cả quyền được sống của con người;

Ngược lại, Việt Nam không hiếm trường hợp lại diễn ra tình trạng "hành chính hóa" hoặc "dân sự hóa" hành vi vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm). Tố giác, tố cáo, tin báo tội phạm của tổ chức, doanh nghiệp, công dân không được giải quyết đúng pháp luật, dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, không truy tố hoặc truy tố không đúng hành vi phạm tội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị hại, các đương sự;

Sự tham gia của luật sư trong lĩnh vực hình sự đặc biệt là với vai trò là người bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người tố giác (tố cáo), người bị hại, nguyên đơn, bị đơn dân sự trong vụ án hình sự là một trong những biện pháp hữu hiệu nhất để giảm thiểu và ngăn chặn tình trạng trên. Hoạt động bào chữa cho bị can, bị cáo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho người bị hại không chỉ là hoạt động nghề nghiệp mà còn là trách nhiệm xã hội của người luật sư trong việc duy trì công lý.

Bài viết thực hiện bởi: luật sư Nguyễn Duy Hội- Trưởng Chi nhánh Hà Nội của Công ty Luật TNHH Everest.

Xem thêm:

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail:info@everest.net.vn.