Quy định về tội trộm cắp tài sản theo bộ luật hình sự

Tội trộm cắp tài sản là hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng các thủ đoạn lén lút, lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản.

Tội trộm cắp tài sản được quy định cụ thể ở Điều 173, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198


Theo Điều 173, Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 về tội trộm cắp tài sản:

“(1). Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:(a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;(b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;(c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;(d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; (đ) Tài sản là di vật, cổ vật”.

Về khách thể của tội phạm.

Khách thể của tội trộm cắp tài sản là quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức hay của nhà nước, tác động đến các đối tượng là tài sản như vật, tiền.

Về mặt khách quan của tội phạm.

Mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản được thể hiện ở hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản khi tài sản đó đang có chủ quản lý. hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội trộm cắp tài sản Đối với tài sản bị chiếm đoạt có giá trị lớn từ 2.000.000 đồng trở lên.

Đối với trường hợp một người thực hiện trộm cắp tài sản nhiều lần. Tuy nhiên mỗi lần trộm cắp giá trị tài sản dưới 2 triệu đồng và không thuộc trong các trường hợp quy định tại Điểm a, b, c và d, Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và trong đó chưa lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội này theo tổng số giá trị tài sản các lần xâm phạm.

Về chủ thể của tội phạm.

Chủ thể của tội trộm cắp tài sản là người từ đủ 16 tuổi trở lên hoặc từ đủ 14 tuổi trở lên đến dưới 16 tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Về mặt chủ quan của tội phạm.

Mặt chủ quan của tội trộm cắp tài sản là tội phạm thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.

Về hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản.

Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định cụ thể ở Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Luật gia Nguyễn Thu Trang - Tổ tư vấn trực tuyến của Công ty Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, tổng hợp.

Khuyến nghị:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại, mà chỉ sử dụng cho mục đích nghiên cứu khoa học, hoặc phổ biến kiến thức pháp luật;
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi đây có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, Email: info@luatviet.net.vn, info@everest.net.vn.