Pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về chuyển giao người bị kết án

Pháp luật quốc tế cũng đã có quy định về chuyển giao người bị kết án, Việt Nam ta chưa có văn bản nào quy định cụ thể về chuyển giao người bị kết án nhưng cũng đã có quy định về nó thông qua các hiệp định đã ký kết và nguyên tắc có đi có lại.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 chỉ quy định về tương trợ tư pháp và dẫn độ tội phạm mà khộng có quy định nào về chuyển giao người bị kết án. Tuy nhiên, theo tinh thần của Bộ luật tố tụng hình sự thì việc chuyển giao người bị kết án giữa Việt Nam và nước ngoài vẫn có thể thực hiện trên cơ sở hiệp định và theo nguyên tắc có đi, có lại.

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật hình sự - Tổng đài tư vấn (24/7): 1900 6198

1. Các hiệp định Việt Nam ký kết có liên quan về chuyển giao người bị kết án

Việt Nam có 14 Hiệp định tương trợ tư pháp với nước ngoài, có Hiệp định tương trợ pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nưóc Cộng hòa nhân dân Hunggary và Hiệp định tương trợ pháp lý về các vấn đề dân sự, gia đình và hình sự giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Ba Lan là có quy định về chuyển giao người bị kết án.

2. Nội dung cơ bản về chuyển giao người bị kết án trong các Hiệp định

- Các nước ký kết sẽ chuyển giao cho nhau việc thi hành hình phạt tước tự do mà Tòa án của nước mình đã tuyên xử đối với công dân của nước ký kết kia bằng các bản án đã có hiệu lực pháp luật.

- Người bị kết án sẽ không được chuyển giao nếu: Hành vi làm cho người bị kết án không phải là tội phạm theo pháp luật của nước ký kết mà người đó là công dân; hoặc tại nước mà người bị kết án là công dân, về cùng những hành vi phạm tội người đó đã bị kết án hoặc được trắng án hoặc được tuyên bố miễn tố hoặc được cơ quan có thẩm quyền tha miễn thi hành hình phạt; hoặc không thể thi hành hình phạt ở nước mà người bị kết án là công dân nếu theo pháp luật của nước này đã hết thời hiệu hoặc vì lý do hợp pháp khác; hoặc người bị kết án thường trú trên lãnh thổ nước ký kết có Tòa án đã xét xử vụ án.

- Người bị kết án được thông báo về quyền đề nghị chuyển giao và có thể gửi đề nghị xin chuyển giao việc thi hành hình phạt đến Tòa án đã xét xử vụ án hoặc đến cơ quan có thẩm quyền của nước mà người đó là công dân. Mặt khác, nước ký kết mà người bị kết án là công dân cũng có thể đề nghị nước có Tòa án đã xét xử vụ án xem xét khả năng chuyển giao cho mình việc thi hành hình phạt.

- Đề nghị chuyển giao phải được lập bằng văn bản và có những nội dung cơ bản sau đây: Bản chính bản án và những vãn bản chứng nhận rằng bản án đã có hiệu lực pháp luật; tài liệu về phần hình phạt đã thi hành; tài liêu về quốc tịch của người bị kết án; điều luật của luật hình sự đã dùng làm căn cứ pháp lý cho việc kết án và những tài liêu, giấy tờ khác nếu hai bên thấy cần thiết.

- Xem xét đề nghị chuyển giao: trong thời hạn ngắn nhất, nước ký kết được yêu cầu sẽ thông báo cho nước ký kết kia biết về quyết định của mình đối với đề nghị chuyển giao để thi hành hình phạt.

- Hình phạt sẽ được thi hành đúng với bản án mà Tòa án của nước ký kết yêu cầu đã tuyên. Tòa án của nước ký kết được yêu câu ra lệnh thi hành bản án mà Tòa án của nước ký kết yêu cầu đã tuyên bằng cách ấn định thời hạn tước tự do ngang với thời hạn tước tự do tuyên phạt trong bản án, phần hình phạt đã thi hành tại nước yêu cầu phải được khấu trừ hoàn toàn. Nước đươc yêu cầu phải thông báo và cung cấp bản sao cho nước đã nhân chuyển giao người bị kết án về việc sửa đổi, hủy bỏ bản án để điều tra lại hay xét xử lại, quyết định miền tố có liên quan đến người bị kết án.

- Sau khi người bị kết án được chuyển giao, nếu có đại xá ở bất kỳ nước ký kết nào, người đó cũng được hưởng đại xá. Mặt khác, nước đã nhận chuyển giao người bị kết án có quyền ân xá.

Nhằm tạo cơ sở pháp lý và nâng cao hiệu quả hợp tác trong lĩnh vực này, hiện nay Việt Nam đang tiến hành đàm phán, tiến tới ký kết các hiệp định chuyển giao người bị kết án với Đại Hàn dân quốc (Hiệp định đã được ký tắt tại Hà Nội), Thái Lan, Cộng hòa Séc, Liên bang Nga, Australia.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực hình sự (nêu trên) được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.