Lừa đảo 200 triệu đồng, mức án bao nhiêu năm tù?

Dấu hiệu cấu thành tội phạm này đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là hành vi đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng là cho người khác tin đó là thật và giao tài sản ra.

Hỏi: Anh trai tôi (38 tuổi) vừa bị công an bắt để điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể, tháng 08/2014 biết bà H đang tìm luật sư để bảo vệ cho con trai bị bắt về hành vi mua bán trái phép ma tuý, anh trai tôi đã tiếp cận, hứa sẽ lo cho được án tù treo hoặc mức án thấp nhất và nhận 200 triệu đồng của gia đình bà H để “chạy án”. Đề nghị Luật sư tư vấn, với số tiền lừa đảo là 200 triệu đồng, anh trai tôi sẽ phải chịu mức án bao nhiêu năm tù? (Quỳnh Anh – Quảng Ninh)


>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Thuỳ - Tổ tư vấn pháp luật Hình sự Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:


Liên quan đến vấn đề anh (chị) hỏi, tôi xin trích dẫn quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; g) Gây hậu quả nghiêm trọng. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân: a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Như vậy, dấu hiệu cấu thành tội phạm này đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi dùng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản. Dùng thủ đoạn gian dối là hành vi đưa ra thông tin giả (không đúng sự thật) nhưng là cho người khác tin đó là thật và giao tài sản ra. Theo đó, trường hợp của anh (chị) thì hành vi của anh trai anh (chị) đã thoả mãn yếu tố cấu thành tội phạm này. Vì vậy, với số tiền anh trai anh (chị) lừa đảo được là 200 triệu đồng thì anh trai anh (chị) có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự, với khung hình phạt tù từ 07 năm đến 15 năm. Ngoài ra, anh trai anh (chị) có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: info@luatviet.net.vn.
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.