Hình phạt tù đối với người chưa thành niên phạm tội?

Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục....

Hỏi: Tôi năm nay 16 tuổi, khi đang trên đường đến nhà bạn, do đi xe máy với tốc độ quá nhanh khi đi qua ngõ nên đã xảy ra va chạm với một người phụ nữ đang từ trong ngõ đi ra, khiến người phụ nữ này phải nhập viện với tỷ lệ thương tật 64%. Đề nghị Luật sư tư vấn, liệu tôi có phải đi tù về hành vi của mình không? Hình phạt tù đối với tôi là bao nhiêu năm? (Phạm Hoàng Anh – Hải Dương)


>>>Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật gia Nguyễn Thị Thuỳ - Tổ tư vấn pháp luật Hình sự Công ty Luật TNHH Everest – trả lời:

Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định như sau:

- Về tuổi chịu trách nhiệm hình sự: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng” (Điều 12).

- Về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội: "2. Người chưa thành niên phạm tội có thể được miễn trách nhiệm hình sự, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục” (Khoản 2 Điều 69).

Như vậy, trường hợp anh năm nay đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Tuy nhiên, trường hợp tội mà anh phạm phải thuộc loại tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ quan, tổ chức giám sát, giáo dục, anh có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Việc phân loại tội phạm thuộc loại tội ít nghiêm trọng hay tội nghiêm trọng cần căn cứ mức án cao nhất quy định tại khung hình phạt của loại tội đó theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật Hình sự. Với trường hợp của anh thì có thể thấy hành vi điều khiển xe máy gây tai nạn của anh đã phạm tội vi phạm quy định về phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại Điều 202 Bộ luật Hình sự như sau: “1. Người nào điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm: a) Không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định; b) Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định hoặc có sử dụng các chất kích thích mạnh khác mà pháp luật cấm sử dụng; c) Gây tai nạn rồi bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn; d) Không chấp hành hiệu lệnh của người đang làm nhiệm vụ điều khiển hoặc hướng dẫn giao thông; đ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng. 3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm. 4. Vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ mà có khả năng thực tế dẫn đến hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. 5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

Tiểu mục 4.1; 4.2 Mục 4 Nghị quyết số 02/2003/NQ – HĐTP hướng dẫn về tình tiết “gây thiệt hại nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng” như sau: “4.1. Người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ nếu chỉ căn cứ vào thiệt hại xảy ra, thì gây thiệt hại cho tính mạng hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng cho sức khoẻ, tài sản của người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 202 Bộ luật Hình sự: a. Làm chết một người; b. Gây tổn hại cho sức khoẻ của một đến hai người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên;…. 4.2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây là "gây hậu quả rất nghiêm trọng" và phải chịu trách nhiệm hình sự theo điểm đ khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự: a. Làm chết hai người; b. Làm chết một người và còn gây hậu quả thuộc một trong các trường hợp được hướng dẫn tại các điểm b, c, d, đ và e tiểu mục 4.1 mục 4 này; c. Gây tổn hại cho sức khoẻ của ba đến bốn người với tỷ lệ thương tật của mỗi người từ 31% trở lên; d. Gây tổn hại cho sức khoẻ của nhiều người với tổng tỷ lệ thương tật của tất cả những người này từ 101% đến 200%;….”.

Như vậy, trong trường hợp của anh, hành vi lái xe gây tai nạn của anh đã gây ra thương tật cho người phụ nữ kia với tỷ lệ thương tật là 64%, mà anh năm nay đủ 16 tuổi có nghĩa là anh đã điều khiển xe máy tham gia giao thông khi chưa đủ độ tuổi theo quy định được phép điều khiển xe máy tham gia giao thông. Vì vậy, hành vi của anh cấu thành tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự với khung hình phạt tù từ 3 năm đến 10 năm.

Khuyến nghị:
  1. Để có ý kiến tư vấn chính xác và cụ thể hơn, Quý vị vui lòng liên hệ với các Luật sư chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 1900 6198, hoặc E-mail: info@luatviet.net.vn.
  2. Nội dung bài tư vấn pháp luật hình sự mà Công ty Luật TNHH Everest cung cấp, Quý vị chỉ nên xem như nguồn tài liệu tham khảo.
  3. Tại thời điểm quý Vị đọc bài viết này, các điều luật chúng tôi viện dẫn có thể đã hết hiệu lực, hoặc đã được sửa đổi, bổ sung; các thông tin trong tình huống là cá biệt. Do đó, chúng tôi không đảm bảo những thông tin này có thể áp dụng cho mọi trường hợp, mọi đối tượng, ở mọi thời điểm.