Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự

Việc hủy bản án sơ thẩm của Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm có thể dẫn đến các hậu quả pháp lý như điều tra lại, xét xử lại vụ án hình sự. Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ tiến hành các hoạt động trên như cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, tòa án cấp sơ thẩm.

Điều tra lại hoặc xét xử lại vụ án hình sự được quy định tại điều 360 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Việc điều tra, xét xử lại được tiến hành theo những thủ tục đã được quy định trong Bộ luật hình sự 2015.

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Luật sư tư vấn pháp luật hình sự qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Căn cứ pháp lý

Điều 360 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quy định:

“1. Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền tiến hành điều tra, truy tố, xét xử lại vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.

2. Sau khi Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại thì Tòa án cấp sơ thẩm có thẩm quyền tiến hành xét xử lại vụ án theo thủ tục chung quy định tại Bộ luật này.”

Khi nào các cơ quan tố tụng có thẩm quyền điều tra, truy tố xét xử lại vụ án hình sự?

Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, cơ quan điều tra phải tiến hành các hoạt động điều tra theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tùy từng trường hợp cụ thể, cơ quan điều tra có thể tiến hành đỉều tra lại từ đầu hoặc cỉ tiến hành điều tra lại hoặc điều tra thêm về những vấn đề điều tra chưa đầy đủ. Khi kết thúc điểu tra, cơ quan điều tra phải gửi hồ sơ cùng bản kết luận điều tra cho Viện kiểm sát để làm lại cáo trạng truy tố bị can.

Trong quá trình điều tra lại, nếu xác định có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; tại Điều 29 và khoản 2 Điều 91 Bộ luật hình sự hoặc đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm, thì cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra. Việc đình chỉ vụ án được thực hiện theo các quy định tại Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, cụ thể:

"1. Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Có một trong các căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 155 và Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự;

b) Đã hết thời hạn điều tra vụ án mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

2. Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đồ vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và những vấn đề khác có liên quan.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả bị can thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

3. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra kèm theo hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì hủy bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố theo thời hạn, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật này."

Khi nào có thẩm quyền xét xử lại vụ án hình sự?

Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm hủy bàn án sơ thẩm để tiến hành xét xử lại ở cấp sơ thẩm, thì Tòa án cấp sơ thẩm phải tiến hành lại các thủ tục tố tụng theo quy định tại các chương XXI - XXII Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc xét xử sơ thẩm lại vụ án trong trường hợp này phải do Hội đồng xét xử mới tiến hành.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006198, E-mail: info@everest.net.vn.