Các hình thức đồng phạm

Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Đồng phạm là thuật ngữ quen thuộc trong luật hình sự nước ta, tuy nhiên trong thực tiễn việc xác định yếu tố đồng phạm gặp rất nhiều khó khăn do tính phức tạp của tội phạm và các yếu tố khác tác động, vì vậy việc nghiên cứu vấn đề đồng phạm trong luật hình sự nước ta là rất cần thiết.

Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198
Luật sư tư vấn pháp luật qua tổng đài (24/7) gọi: 1900 6198

Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Người tổ chức, người thực hành.

“Đồng phạm” là một khái niệm thường gặp trong khi học Luật hình sự. Để biết được trong một vụ án thì ai được coi là đồng phạm và “đồng phạm” phải chịu trách nhiệm hình sự như thế nào. Bài viết sau sẽ cung cấp cho các bạn những kiến thức cơ bản về đồng phạm như sau:

Đồng phạm là một khái niệm nói lên quy mô tội phạm thể hiện trong một vụ án có nhiều người tham gia.

Tuy nhiên việc có nhiều người tham gia không phải là điều kiện đủ để kết luận là có đồng phạm mà nhiều người tham gia đó phải cấu kết với nhau cố ý cùng thực hiện một tội phạm.

Ví dụ: A rủ B cùng thực hiện hành vi trộm cắp chiếc xe máy SH của C, nhưng khi A lấy trộm cái xe máy xong thì B lại lẻn vào nhà lấy cái điện thoại của vợ C. Như vậy tuy cùng là hành vi trộm cắp tài sản nhưng A, B không phải đồng phạm vì không cùng thực hiện một hành vi phạm tội.

Phạm tội có tổ chức là trường hợp nhiều người cố ý cùng bàn bạc, cấu kết chặt chẽ với nhau, vạch ra kế hoạch để thực hiện một tội phạm, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu. Đây còn là một hinh thức đồng phạm có sự phân công, sắp xếp, sắp đặt vai trò của những người tham gia. Trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều kiển của người cầm đầu.

Ví dụ: Trong một kế hoạch bắt cóc, A bàn bạc và phân công nhiệm vụ cho B dò la tin tức, theo dõi thói quen sinh hoạt của nạn nhân, C đứng ngoài canh cửa và báo động khi có nguy hiểm, D phá khóa và bịt miệng nạn nhân bằng vải tẩm thuốc mê, E đánh lạc hướng người đi đường, A cùng F vào nhà bắt cóc nạn nhân, K có nhiệm vụ lấy ô tổ chở nạn nhân và tất cả cùng tẩu thoát.

Trong đó:

Người thực hành:

Là người trực tiếp thực hiện tội phạm,trực tiếp có hành vi thuộc mặt khách quan của tội phạm như: Trực tiếp dung sung bắn nạn nhân, trực tiếp chiếm đoạt tài sản, trực tiếp nhận lối hộ,..

Người thực hành là người có vai trò quyết định việc thực hiên tội phạm, vì họ là người trực tiếp thực hiên tội phạm. Dù là đồng phạm giản đơn hay phạm tội có tổ chức thì bao giờ cũng có người thực hành. Nếu không có người thực hành thì tội phạm chỉ dừng lại ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, mục đích tội phạm không được thực hiện.

Người tổ chức:

Là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Chỉ trong trường hợp phạm tội có tổ chức mới có người tổ chức.

Người tổ chức có thể có những hành vi như: khởi xướng việc tội phạm; vạch kế hoạch thực hiện tội phạm cũng như kế hoạch che giấu tội phạm; rủ rê, lôi kéo người khác cùng thực hiện tội phạm; phân công trách nhiệm cho những người đồng phạm khác để thống nhất thực hiện tội phạm; điều khiển hành động của những người đồng phạm; đôn đốc, thúc đẩy người đồng phạm khác thực hiện tội phạm…

Người xúi dục:

Là người kính động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.

Hành vi kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm chỉ được coi là người đồng phạm trong vụ án có tổ chức, khi hành vi xúi dục có liên quan trực tiếp đến toàn bộ hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm trước khi bị xúi dục chưa có ý định tội phạm, vị có người khác xúi dục nên họ mới nảy sinh ý định tội phạm.

Nếu việc xúi dục không liên quan trực triếp đến hoạt động tội phạm của những người đồng phạm khác và người thực hiện tội phạm đã có sẵn ý định tội phạm, thì không phải là người xúi dục trong vụ án có đồng phạm.

Tuy nhiên, nếu xúi dục trẻ em dưới 14 tuổi phạm tội, người không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện tội phạm, thì hành vi xúi dục được coi là hành vi thực hành

thông qua hành vi của người không chịu trách nhiệm hình sự. Trong trường hợp này, người không phải chịu trách nhiệm hình sự trở thành công cụ để người xúi dục thực hiện tội phạm. Nếu xúi dục trẻ em từ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tội phạm thì người xúi dục còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi dục người chưa thành niên tội phạm”

Người giúp sức:

Là người tạo điều những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm.

Trong một vụ án có đồng phạm, vai trò của người giúp sức cũng rất quan trọng; nếu không có người giúp sức thì người thực hiện tội phạm sẽ gặp khó khăn. Người giúp sức có thể giúp bằng lời khuyên, lời chỉ dẫn; cung cấp phương tiện tội phạm hoặc khắc phục những trở ngại cho việc thực hiện tội phạm; hứa che giấu người phạm tội, phương tiện, xoá dấu vết, hứa tiêu thụ tài sản do tội phạm mà có…

Trường hợp: Người đồng phạm không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi vượt quá của người thực hành. Được hiểu như sau:

Ví dụ: A và B là đồng phạm về tội trộm cắp tài sản, nhưng sau khi A bị chủ nhà phát hiện, đã dùng dao giết người. Trường hợp này A sẽ chịu TNHS về 2 tội trộm cắp và giết người, B sẽ chỉ là đồng phạm với A về tội trộm cắp tài sản mà thôi.

chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi dục người chưa thành niên tội phạm”.

được coi là hành vi thực hành.

không phải là người xúi dục trong vụ án có đồng phạm.

chỉ được coi là người đồng phạm trong vụ án có tổ chức.

Luật gia Đỗ Văn Thiêm - Phòng tư vấn doanh nghiệp của Công ly Luật TNHH Everest - Tổng đài tư vấn 1900 6198, tổng hợp.

Khuyến nghị:

  1. Bài viết được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị đây chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật 19006198, E-mail: info@luatviet.net.vn./.